Xu Hướng 2/2023 # Quốc Tịch Úc Và Bản Sắc Của Người Việt # Top 3 View | Thanhlongicc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Quốc Tịch Úc Và Bản Sắc Của Người Việt # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Quốc Tịch Úc Và Bản Sắc Của Người Việt được cập nhật mới nhất trên website Thanhlongicc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Người Việt qua Úc với nhiều mục đích khác nhau. Có người qua để du học, để làm việc, hay để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhiều người khi mới qua cũng chưa xác định rằng, liệu mình có muốn tiếp tục sống ở đây cho đến hết quãng đời còn lại hay không. 

Thế nhưng sau một khoảng thời gian ổn định và thích nghi với cuộc sống mới, phần lớn đều muốn ở lại đất nước này. Và từ đó, những day dứt về nước Úc như là một quê hương thứ hai, cũng như về bản sắc Việt trong bản thân mỗi người lại trỗi lên.

Chị H., một nhân viên văn phòng ở Sydney, kể lại quá trình hoà nhập với cuộc sống Úc của mình.

“Mình qua Úc hồi đầu năm 2010, đến nay là tròn 9 năm. Lúc đầu thì mình đi học, là sinh viên, sau đó tốt nghiệp xong cũng bắt đầu nghĩ đến việc… cuộc sống ở đâu thì phù hợp hơn. Lúc đó thì mình nghĩ là ở Úc thì mình cũng không biết là có thực sự phù hợp hay không, nhưng mà mình muốn thử.

“Cho nên mình bắt đầu tìm việc làm và cố gắng tăng số điểm để mà có visa ở lại. Càng ngày càng quen dần với cuộc sống ở đây thì tính đến nay là 9 năm. Mình vừa mới có được quốc tịch hồi tháng rồi.”

Nói về bản sắc Việt của mình, chị H. cho rằng dù đã sống ở Úc gần 10 năm, song chị vẫn cảm thấy mình “hoàn toàn là người Việt Nam.”

“Thú thật là sau 9 năm sống ở Úc thì mình vẫn thấy mình hoàn toàn là người Việt Nam. Mặc dù nói thật là khi về Việt Nam thăm gia đình hoặc đi chơi với bạn bè ở Việt Nam thì mình cũng cảm thấy là cách sống của mình cũng thay đổi khá nhiều so với mọi người ở đó.

“Nhìn lại quá trình sống ở Úc, mình cũng học được rất nhiều, chẳng hạn như cách cư xử với mọi người, hoặc là cách suy nghĩ cũng cởi mở hơn và cũng khác nhiều so với thời gian mình sống ở Việt Nam. Mình thấy quãng thời gian sống ở Úc đã dạy cho mình được nhiều điều. Tuy vậy, mình vẫn không thấy mình trở thành một người Úc hoàn toàn.” 

Còn anh Đ., một nhân viên y tế ở Melbourne, thì cho biết anh cảm thấy rất vui khi có được quốc tịch Úc.

“Mình qua Úc từ năm 2003 dưới hình thức là du học sinh trung học. Mình có quốc tịch từ khoảng năm 2015. Nói chung là vui vì mục tiêu chính của mình là có quốc tịch để được định cư tại Úc theo con đường hợp pháp nhất có thể.”

Thế nhưng anh cũng có quan điểm giống với chị H., rằng dù mang quốc tịch Úc, song anh vẫn xem mình là người Việt Nam “chính gốc”. 

“Mặc dù đã có quốc tịch Úc nhưng mà mình vẫn coi mình là người Việt, tại vì thực sự mình sinh ra và lớn lên ở Việt Nam.

“Mình có dịp may được qua Úc nên mình có thể tiếp thu được nền giáo dục của một nước tiến bộ như vậy thì mình rất là cảm ơn nước Úc, nhưng mà thực chất thì mình vẫn là dân Việt Nam chính gốc thôi.”

Chị Đ. sang Úc hồi năm 1997 và có quốc tịch hai năm sau đó, chia sẻ rằng chị luôn cố gắng dung hòa cái hay, cái đẹp của cả hai nền văn hóa.

“Mình là người Úc gốc Việt. Người Úc gốc Việt thì dù muốn dù không mình cũng không bỏ đi cái gốc của mình rồi. Nhưng mà nếu 100% Việt thì thực ra ở lâu thì cái suy nghĩ, cái quan điểm cũng thay đổi ít nhiều theo ảnh hưởng của người Úc.

“Với lại mình luôn theo quan điểm là cái gì hay của mình thì mình giữ lại, nhưng mà cái gì hay của người ta thì mình học hỏi theo. Cho nên từ quan niệm nuôi dạy con cái, về vấn đề đa sắc tộc, những cái đó mình cởi mở hơn và mình theo quan điểm của Úc nếu mà mình thấy nó hay.

“Còn quan điểm Việt Nam của mình còn nhiều cái phong kiến, bảo thủ thì những cái đó mình cảm thấy nó không thích hợp, thì mình sẽ bỏ qua. Cho nên mình cảm thấy là mình dung hòa được hai nền văn hóa.”

“Nếu mình sống ở nước người ta mà mình không nói được ngôn ngữ của người ta, thì mình sẽ bị gò bó rồi mình sẽ cảm thấy khoảng cách rất lớn.” – Chị Đ. (Melbourne)

Tuy nhiên, chị Đ. cho rằng khả năng sử dụng tiếng Anh là rất quan trọng trong việc xóa bỏ rào cản ngôn ngữ và giảm thiểu kỳ thị tại Úc. 

“Thời gian mới tới Úc, không biết tiếng Anh nhiều, rồi cũng không tiếp xúc, không mở rộng bên ngoài nhiều, tôi thấy không thay đổi gì nhiều lắm. Sống ở Úc nhưng mà quan điểm, suy nghĩ cũng không thay đổi gì nhiều, cũng không cảm thấy thích hợp lắm với nước Úc.

“Sau này bắt đầu đi học, đi làm, tiếp xúc với người Úc nhiều, mở rộng tầm nhìn ra ngoài, thì mình cảm thấy mình hòa đồng được hơn. Tôi nghĩ vấn đề ngôn ngữ là trở ngại lớn. Nếu mình sống ở nước người ta mà mình không nói được ngôn ngữ của người ta, thì mình sẽ bị gò bó rồi mình sẽ cảm thấy khoảng cách rất lớn, cảm thấy bị tách biệt, bị cô lập.

“Cho nên nếu mình xóa được rào cản ngôn ngữ thì tự dưng mình sẽ thấy sự gần gũi đối với nước Úc và mình cũng giảm thiểu đi được một số vấn đề kỳ thị hay là những vấn đề làm mình không vui.” 

“Cho dù mình sống ở Úc càng lâu thì mình cũng không thể nào biến mình hoàn toàn trở thành một người Úc được.” – Chị H. (Sydney)

Chị H. cũng kể rằng hồi mới qua Úc, chị rất tích cực giao tiếp với các bạn bè quốc tế nhằm cải thiện vốn tiếng Anh. Song sau một thời gian, chị dần quay lại nếp sinh hoạt cũ của người VIệt.

“Mình nhớ là thời kỳ đầu tiên khi mình mới qua Úc, mình muốn học và muốn cải thiện vốn tiếng Anh, nên mình ở với các bạn sinh viên quốc tế và người Úc rất nhiều. Nhưng càng ngày có vẻ như bản chất người Việt của mình vẫn kéo mình trở về.

“Mình vẫn không thể nào thay thế hoàn toàn được cách sống, vẫn ăn uống theo kiểu người Việt, sinh hoạt, gặp gỡ cộng đồng người Việt nhiều hơn, và bạn bè mình cũng là người Việt Nam nhiều hơn. Có thể nói là cho dù mình sống ở Úc càng lâu thì mình cũng không thể nào biến mình hoàn toàn trở thành một người Úc được, vẫn là người Việt Nam.”

Chị Đ. ví von tiếng Anh như là chiếc chìa khóa để mở ra những chiếc hộp đóng kín trong xã hội Úc.

“Có nhiều người nói với tôi rằng họ qua Úc lúc lớn tuổi rồi nên cảm thấy không cần thiết học tiếng Anh. Thì thực sự tôi cũng khởi điểm lúc tuổi cũng bắt đầu lớn. Nó khó chứ không dễ. Nhưng mà nhờ tôi xóa dần rào cản ngôn ngữ thì nó đã giúp ích mình rất nhiều, từ việc nuôi dạy con cái, xóa bỏ kỳ thị, dẫn tới sự hòa nhập văn hóa và làm cho mình bớt bị cô lập, bớt bị buồn tẻ.

“Bởi vì nhiều người nói ở Úc buồn như mà thực sự ra nó có nhiều cái rất là hay, giống như những cái hộp đóng kín mà mình cần những cái chìa khóa, đó là chìa khóa ngôn ngữ để mở những cái hộp đó ra, thì có rất nhiều điều hay để khám phá ở đó.”  

Nhìn chung, phần lớn người Việt đều bày tỏ lòng biết ơn đối với nước Úc, vì những đãi ngộ về xã hội, y tế hay giáo dục. Chị H. nói:

“Nước Úc đã cho mình sự tự do. Mình nhìn lại quá trình mình ở Úc, thì mình cũng có phần tự hào là mình đã cố gắng và làm việc để mình chọn được một cuộc sống tự do hơn.”

Còn anh Đ. thì chia sẻ rằng nếu chọn sống giữa Úc và Việt Nam, thì anh sẽ chọn sống ở Úc khi trẻ.

“Riêng độ tuổi mình thì mình nghĩ mình sẽ sống ở Úc nhiều hơn, tại vì thực sự có nhiều việc mà mình cảm thấy hợp lý hơn, ví dụ như an ninh xã hội tốt hơn, vấn đề y tế cũng tốt hơn, thì nó có thể giúp cho mình làm việc một cách tối ưu, và con mình sẽ hưởng được một nền giáo dục tốt.”

Thêm thông tin và cập nhật Like SBS Vietnamese FacebookNghe SBS Radio bằng tiếng Việt mỗi tối lúc 7pm tại  chúng tôi

Có Nên Sở Hữu Cả Hai Quốc Tịch Việt

Việt Nam cho phép có hai quốc tịch

Năm 2008, Luật Quốc tịch Việt Nam được tu chính. Đặc biệt là Điều 4 trước đây quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt nam” được bổ sung “trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Tu chính này có thể được diễn giải là truyền thống đơn tịch không còn áp dụng triệt để như trước đây.

Nếu như Luật Quốc tịch 1998 có ghi là “nguyên tắc một quốc tịch” thì Luật năm 2008 đã bỏ bớt chữ “một” và chỉ còn là “nguyên tắc quốc tịch”. Điều này cho thấy có sự mềm dẻo và linh hoạt hơn. Lý do chính có sự thay đổi này là vì nhà cầm quyền muốn thu hút người Việt định cư và có quốc tịch nước ngoài trở về đầu tư và làm ăn ở Việt Nam bằng cách tạo điều kiện cho họ hồi phục quốc tịch Việt nam mà vẫn giữ được quốc tịch nước ngoài.

Từ ngày 1/7/2009, người Việt Nam đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn mong muốn được trở thành công dân Việt Nam sẽ được đáp ứng.

Tuy nhiên, việc 2 quốc tịch chỉ áp dụng với một số ngoại lệ gồm: người được Chủ tịch nước cho phép, trường hợp xin trở lại quốc tịch Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn muốn nhập quốc tịch Việt Nam; trẻ em là con nuôi.

Luật Quốc tịch cũng cho phép người có vợ chồng, cha mẹ đẻ, con đẻ là công dân Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam.

“Khi có quốc tịch Việt Nam và sử dung passport Việt Nam về nước thì chính phủ Úc không thể can thiệp để bảo vệ công dân của mình”. LS Nguyễn Văn Thân

Trường hợp nếu không thuộc những diện trên thì công dân nước ngoài, người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam muốn trở thành công dân Việt Nam phải có các điều kiện sau: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; biết Tiếng Việt để có thể hòa nhập vào cộng đồng; thường trú từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch, và có khả năng bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam…

Việc đăng ký giữ quốc tịch cũng được đề cập trong đạo luật trên. Theo đó người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch tính đến trước ngày 1/7/2009 thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Và trong 5 năm kể từ thời điểm trên, họ phải đến đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nơi người đó định cư để giữ quốc tịch. Nếu không đăng ký thì sẽ mất quốc tịch.

Luật Quốc tịch với 44 điều được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 13/11 và có hiệu lực từ 1/7/2009.

Luật song tịch trong Hiến pháp Úc

Úc cũng có truyền thống đơn tịch bắt đầu với Đạo luật Quốc tịch đầu tiên từ năm 1903 (Naturalization Act 1903). Luật Quốc tịch Úc đã trải qua nhiều đợt tu chính nhưng đến năm 2002 thì Đạo luật Tu chính Quốc tịch Úc (Australian Citizenship Legislation Amendment Act 2002) gạch bỏ Điều 17 của Luật Quốc tịch.

Điều 17 này quy định công dân Úc đương nhiên mất quốc tịch Úc khi nhập quốc tịch của một quốc gia khác. Có nghĩa là kể từ năm 2002 thì Luật Quốc tịch Úc công nhận tình trạng song tịch hoặc đa tịch.

Một công dân Úc đương nhiên mất quốc tịch Úc nếu tuyên thệ nhập tịch với một quốc gia khác trước ngày 4 tháng 4 năm 2002.

Tổng trưởng phải trả lời đơn bằng văn bản chấp thuận hoặc từ chối và nguyên đơn chỉ mất quốc tịch Úc tính từ ngày có quyết định chấp thuận.

Cuối năm 2015, chính quyền Liên Bang có tu chính Luật Quốc Tịch nhằm tước bỏ quốc tịch Úc đối với những người phạm tội hoặc có liên can tới khủng bố. Luật này chỉ áp dung với công dân có hai quốc tịch.

Lợi hại khi có cả quốc tịch Việt Nam và Úc?

Có hai lợi điểm chính là có thể đi lại dễ dàng giữa Úc và Việt nam mà không cần xin visa. Thứ hai là có thể mua bán, làm ăn, thành lập công ty, đứng tên thương vụ hoặc bất động sản tại Việt Nam mà không cần thông qua các thủ tục xin phép giành cho người nước ngoài.

Bên cạnh đó cũng có nhiều đìều bất lợi. Thứ nhất là có thể phải thì hành nghĩa vụ quân sự như các công dân Việt Nam khác. Kế tiếp là có thể phải khai và đóng thuế cho cả Úc và Việt Nam.

Nhưng điều nguy hiểm nhất là khi đụng chạm tới luật hình sự hoặc khi cần sự hỗ trợ của lãnh sự quán Úc ví dụ như trong trường hợp của ông Ernst Harlacher một người sinh ra tại Thuỵ sĩ nhưng đã di dân sống tại Melbourne trên 40 năm.

Ông Ernst đi Thụy sĩ để thăm bạn trong năm 2012 nhưng bị cảnh sát bắt vì được chẩn đoán mang bệnh lẫn (dementia). Theo luật Thụy sĩ thì những người mang bệnh lẫn bị buộc phải giam giữ trong bệnh viện. Lãnh sự Úc tại Thụy sĩ không can thiệp được vì ông vẫn còn giữ quốc tịch Thụy sĩ. Ông qua đời trong bệnh viện một năm sau đó.

Một trường hợp khác là Ben Zygier – một người có song tịch Úc-Do thái. Ben Zygier sinh ngày 9 tháng 12 năm 1976 tại Melbourne. Sau khi học xong đại học thì Ben gia nhập quân đội Do thái và thi hành nghĩa vụ quân sự. Sau đó Ben làm việc cho tổ chức tình báo Mossad của Do thái.

Không biết vì lý do gì mà Ben bị nhà nước Do thái bắt giam và giữ trong một phòng giam bí mật vào năm 2010. Gia đình của Ben cũng như lãnh sự quán Úc hoàn toàn không được cho biết bất cứ chi tiết gì. Mãi đến năm 2013 sau khi Ben tự tử trong tù thì vụ này mới được đưa ra ánh sáng.

“Những trường hợp gần với Việt nam nhất là những người Úc gốc Hoa khi về Trung quốc làm ăn bị bắt và tuyên án tù dài hạn. Nổi bật nhất là Stern Hu một giám đốc của đại công ty Rio Tinto. Chính quyền cộng sản Trung quốc không coi họ như là người Úc và Lãnh sự cũng như Bộ Ngoại giao Úc cũng không làm gì được”. LS Nguyễn Văn Thân

Trong khi những người Úc gốc Hoa đều nhận những bản án tù dài hạn nhiều năm thì một người Úc da trắng là ông Chris Mather chỉ bị lưu giữ 6 tháng với những cáo buộc tương tự.

Riêng đối với người Úc gốc Việt thì càng phải thận trọng hơn vì theo Điều 78 của Bộ Luật Hình sự Việt nam (đã được sửa đổi, bổ sung 2009) thì “công dân Việt Nam nào cấu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hoại cho độc lập, chủ quyền…,chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 12 năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

Tương tự như vậy, Điều 79 quy định người nào tham gia tổ chức nhằm lật đổ “chính quyền nhân dân” thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Điều 88 quy định người nào “tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân thì bị phạt tù từ ba năm đến mưới hai năm và trường hợp nghiêm trọng thì từ mười năm đến hai mươi năm”.

Trong thời gian gần đây thì chính phủ Việt Nam lại đưa ra Điều luật 258 để buộc tội và bỏ tù những bloggers và những người sử dụng facebook và internet. Điều 258 quy định người nào “lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước…tổ chức, công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Trường hợp nghiêm trọng thì phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Theo SBS

Giữ Quốc Tịch Mỹ Khi Sinh Sống Tại Việt Nam

Theo Luật Quốc tịch 2009 sửa đổi bổ sung 2014, Điều 23. Các trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam:

1. Người đã mất quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 26 của Luật này có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Xin hồi hương về Việt Nam;b) Có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam;c) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;d) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;đ) Thực hiện đầu tư tại Việt Nam;e) Đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài.

2. Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

3. Trường hợp người bị tước quốc tịch Việt Nam xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải sau ít nhất 5 năm, kể từ ngày bị tước quốc tịch mới được xem xét cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

4. Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây, tên gọi này phải được ghi rõ trong Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

5. Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép:

a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.6. Chính phủ quy định cụ thể các điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam.

Thứ hai: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam

Điều 13. Người có quốc tịch Việt Nam:

1. Người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam.

Đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đồng thời có quốc tịch nước ngoài, nếu xuất trình được các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam (Giấy khai sinh; Giấy chứng minh nhân dân; Hộ chiếu Việt Nam…), thì là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Trường hợp cần tra cứu về quốc tịch bạn liên hệ Cục hộ tịch, quốc tịch, chứng thực để được hướng dẫn.

Một trong những vấn đề cần lưu ý là việc sử dụng hai hoặc nhiều hộ chiếu như thế nào cho đúng và thuận tiện khi đi lại giữa các nước:

* Bắt buộc phải sử dụng hộ chiếu của nước bạn hiện có quốc tịch để ra và vào nước đó. Ví dụ: Bạn có quốc tịnh Mỹ và Việt Nam. Khi ra khỏi Mỹ phải sử dụng hộ chiếu Mỹ, khi vào Việt Nam phải sử dụng hộ chiếu Việt Nam và ngược lại khi về. Tuy nhiên, khi check-in các hãng hàng không, bạn phải xuất trình cả hai hộ chiếu để chứng minh không cần visa cho nước sẽ bay đến.* Không bao giờ xin visa để vào nước bạn đang giữ quốc tịch. Công dân của một nước không bao giờ cần visa để ra vào nước của mình. Ví dụ bạn có thể gặp trường hợp nhân viên của đại lý du lịch không nắm thông tin yêu cầu bạn dán visa vào hộ chiếu Mỹ khi mua vé máy bay đi Việt Nam trong khi bạn có cả hai quốc tịch này.* Khi đến nước thứ 3, tùy theo chính sách quản lý cửa khẩu nước này, bạn linh họat sử dụng những hộ chiếu của mình sao cho phù hợp và tiết kiệm. Ví dụ: Bạn nên sử dụng hộ chiếu Úc để vào Nhật vì không cần visa, trong khi hộ chiếu Việt Nam thì cần visa. Hoặc nên sử dụng hộ chiếu Việt Nam để vào Indonesia vì miễn visa, trong khi hộ chiếu Úc thì không. Do vậy, không phải lúc nào hộ chiếu Mỹ, Australia, Anh… cũng thuận tiện và tốt hơn. Hộ chiếu Việt Nam khá thuận lợi khi đi lại giữa các nước trong ASEAN.* Nên mang theo tất cả hộ chiếu khi du lịch hoặc công tác đến bất cứ nước nào đó. Nó giúp bạn có được sự trợ giúp từ tất cả các đại sứ hoặc lãnh sứ quán của mình khi có yêu cầu hoặc trong các trường hợp bất khả kháng.

Công ty Di trú & Quốc tịch chuyên tư vấn bảo lãnh định cư Mỹ

Điện thoại: (848) 38 222 102 – Hotline: 0912 800 877Website: ditruquoctich.comĐịa chỉ: Lầu 5 tòa nhà Master, 41 – 43 Trần Cao Vân, Phường 6, Quận 3

Quốc Ca Việt Nam Và Quốc Ca Nhật Bản – Đi Tìm Nét Tương Đồng Á Đông

Việt Nam và Nhật Bản trong những năm gần đây có những bước tiến vượt bậc trong quan hệ giao thương và cả văn hóa nghệ thuật. Trong đó lĩnh vực trao đổi và xuất khẩu lao động được chú ý đặc biệt. Khi bạn đến Việt Nam thì tìm hiểu quốc ca Việt Nam là điều hiển nhiên, và khi bạn đến Nhật Bản thì biết sơ qua bài quốc ca Nhật Bản cũng là điều rất cần thiết.

Vậy bạn đã biết rõ về nội dung cũng như nguồn gốc 2 bài hát cho tổ quốc này chưa? Cùng tìm hiểu thôi nào!

Quốc ca nước Việt Nam – Bài “Tiến quân ca” của tinh thần dân tộc

Mỗi đất nước đều có 1 bài hát quốc ca để thể hiện tinh thần dân tộc và lòng tự tôn khi đi ra biển lớn. Nước Việt Nam của chúng ta cũng vậy! Ai ai cũng có thể cất vang bài quốc ca với sự tự hào dâng cao nhưng còn rất nhiều bạn trẻ vẫn chưa am tường về nguồn gốc xuất xứ của bài hát đặc biệt này. Đây là câu trả lời dành cho bạn!

Nguồn gốc bài quốc ca của nước Việt Nam

Bài hát quốc ca của Việt Nam được chính thức sử dụng từ năm 1976 sau khi được toàn bộ đại biểu quốc hội biếu quyết thông qua. Nguồn gốc của bài hát này chính là bài hát “Tiến Quân ca” do nhạc sỹ Văn Cao sáng tác năm 1944. Trước năm 1975, bài Tiến Quan ca được xem là bài hát biểu tượng cho nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa.

Như đã đề cập, quốc ca Việt Nam có tên gọi nguyên bản là “Tiến Quân ca”. Đây là một bài hát có nhịp mạnh mẽ, ngôn ngữ hào hùng và có sức mạnh khích lệ tinh thần người nghe cực kỳ hiệu quả. Nó được nhạc sỹ Văn Cao sáng tác phục vụ cho Cách Mạng Tháng 8 năm 1945.

Khi được chọn làm quốc ca thì lời bài hát Tiến Quân ca được sửa chữa một số chỗ như thay từ “Việt Minh” thành “Việt Nam”.

Lời bài hát quốc ca Việt Nam

Từ khi được chính thức lưu hành toàn quốc thì bài quốc ca Việt Nam gồm có 2 lời:

Lời 1

Đoàn quân Việt Nam đi Chung lòng cứu quốc Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước, Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca. Đường vinh quang xây xác quân thù, Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu. Vì nhân dân chiến đấu không ngừng, Tiến mau ra sa trường, Tiến lên, cùng tiến lên. Nước non Việt Nam ta vững bền.

Lời 2

Đoàn quân Việt Nam đi Sao vàng phấp phới Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới, Đứng đều lên gông xích ta đập tan. Từ bao lâu ta nuốt căm hờn, Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn. Vì nhân dân chiến đấu không ngừng, Tiến mau ra sa trường, Tiến lên, cùng tiến lên. Nước non Việt Nam ta vững bền.

Học hát quốc ca Việt Nam là quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân, là sự tôn trọng của mỗi người khi đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

Các bài quốc ca trong lịch sử Việt từ thời khai hoang lập quốc

Quốc ca đầu tiên của Việt Nam

Từ thế kỷ 19 trở về trước có khá nhiều bài hát dùng trong hoàng cung nội tộc nhưng để xác định chính xác bài quốc ca thì rất khó. Do đó chúng ta chỉ xác định bài quốc ca từ thời vua Bảo Đại – Vị vua cuối cùng của nước Việt Nam.

Quốc ca Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa

Trong giai đoạn 1945 – 1975 thì sự kiện đáng chú ý nhất là hiệp đinh Geneva chia đất nước thành 2 miền và lấy vĩ tuyến 17 làm mốc ranh giới quân sự. Lúc này nước Việt Nam có 2 bài quốc ca ở 2 đầu tổ quốc.

Miền Bắc do Đảng cộng sản lãnh đạo lấy quốc ca là bài hát Tiến Quân ca

Miền Nam do chính phủ Việt Nam Cộng hòa lãnh đạo và quốc ca là bài hát Tiếng gọi công dân

Sau khi chính quyền Việt Nam Công Hòa sụp đổ thì bài hát Tiến quân ca mới chính thức được hát vang trên mọi miền đất nước. Và từ năm 1975 thì bài hát Tiếng Gọi Công Dân cũng không được lưu hành rộng rãi nữa mà dần đi vào quên lãng. Hiện nay chỉ có một nhóm nhỏ các sỹ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn sử dụng và thỉnh thoảng có hát tại các sự kiện tưởng niệm tại Mỹ và một số quốc gia khác.

Lời bài quốc ca của Việt Nam Cộng Hòa

Quốc ca của chính quyền Việt Nam công hòa có khá nhiều bản, tuy nhiên bản chính thức của bài Tiếng Gọi Công Dân có lời bài hát như sau:

“Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống. Vì tương lai Quốc Dân, cùng xông pha khói tên, Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền. Dù cho thây phơi trên gươm giáo, Thù nước, lấy máu đào đem báo. Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy, Người Công Dân luôn vững bền tâm trí. Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời! Công Dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ! Công Dân ơi! Mau làm cho cõi bờ Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống Xứng danh nghìn năm dòng giống Lạc Hồng!”

Quốc ca Nhật Bản – Tinh hoa tâm hồn Võ Sĩ Đạo

Nguồn gốc bài quốc ca Nhật Bản

Quốc ca Nhật Bản có tên gọi nguyên bản là KimiGayo – dịch theo Hán thư là Quân Chi Đại. Đây là một bài hát cổ đã xuất hiện và được sử dụng từ thế kỷ thứ 10 tại xứ Phù Tang. Lời của bài hát này được sáng tác dựa trên một bản hòa âm cổ trong tác phẩm kinh điển Cổ Kim hòa ca tập xuất hiện vào thời đại Heian trong lịch sử nước Nhật Bản.

Xem lời bài quốc ca Nhật Bản ở đâu?

Hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin thì bạn có thể tìm thấy lời bài hát quốc ca Nhật Bản tại khắp mọi nơi. Với đầy đủ các phiên bản tiếng Nhật, tiếng Hán, tiếng phiên âm cũng như tiếng Việt nên chúng ta có thể dễ dàng theo dõi lời bài hát.

Bài quốc ca Nhật KimiGayo được dịch sang nghĩa Tiếng Việt như sau:

“Hoàng triều của Người Qua ngàn đời, và tám ngàn đời Những viên sỏi nhỏ kết thành những tảng đá cổ kính rêu phong.”

Mặc dù nổi tiếng với những hình tượng Võ sĩ đạo mạnh mẽ hoặc Yakuza bí ẩn huyền thoại nhưng quốc ca Nhật Bản lại vô cung nhẹ nhàng sâu lắng. Đó giống như một lời tâm tình với non sông, lời trò chuyện sâu lắng và chứa ý nghĩa sâu sắc nhiều tầng mà mỗi người sẽ có góc nhìn và cách hiểu khác nhau.

Học hát quốc ca Nhật Bản có khó không?

Nét tương đồng giữa quốc ca Việt Nam và quốc ca Nhật Bản

Ý nghĩa quốc ca Việt Nam

Thuở nhỏ còn đi học, mỗi thứ hai đầu tuần chúng ta đều được hát quốc ca và hướng về phía quốc kỳ tươi thắm. Những công dân xa quê hoặc đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản đôi khi nhớ về quê hương và thì thầm hát bài quốc ca hào hùng. Đó là ý nghĩa thiêng liêng nhất mà bài quốc ca mang lại cho mỗi chúng ta – Lòng tự tôn dân tộc.

Bài hát Tiến Quân ca với lời nhạc hào hùng mạnh mẽ, từng nốt nhạc cất lên đều thể hiện tấm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam.

Nhiều thế hệ người Việt Nam đã hát Quốc ca với nhiệt huyết từ mỗi trái tim cho dân tộc và đất nước, sự tự hào về truyền thống yêu nước và ý chí bất khuất của một dân tộc nhỏ bé nhưng không tầm thường.

Ý nghĩa quốc ca Nhật Bản

Được một nhạc sỹ danh tiếng người Nhật soạn lời và được một nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức hòa âm, bài quốc ca Nhật Bản trở thành một tượng đài của văn hóa xứ Phù Tang.

Mặc dù chỉ có đôi dòng ngắn gọn và được cất vang chưa đến 1 phút nhưng quốc ca Nhật Bản ẩn chứa rất nhiều hàm ý cao cả và thiêng liêng.

Bài quốc ca này đã từng được bầu chọn là bài quốc ca ý nghĩa nhất thế giới trong một sự kiện âm nhạc của các sinh viên nhạc viện.

Đó là lời thì thầm chứa đựng nhiều tầng lớp ý nghĩa. Để từ một bài hát ngắn gọn nhưng đủ sức mạnh để thúc đẩy một dân tộc nhỏ bé, một quốc gia nghèo nàn vươn lên thành con Rồng Châu Á và siêu cường của thế giới.

Điểm tương đồng trong tinh thần của bài quốc ca 2 nước

Xét về nội dung, cả hai bài quốc ca đều hướng đến tình yêu quê hương đất nước và khát vọng độc lập tự chủ. Bên cạnh đó là những ý nghĩa hàm ẩn răn dạy cho các thế hệ sau về non sông đất nước, về cách sống và làm việc cống hiến cho màu cờ sắc áo.

Mỗi bài quốc ca đều thể hiện được vẻ đẹp của tinh thần dân tộc, ca ngợi sự hào hùng của những thế hệ ngàn năm dựng nước giữ nước. Từng câu từng chữ trong 2 bài quốc ca đều làm cho những công dân sở tại thêm yêu nước hơn và thêm động lực để cống hiến cho tổ quốc.

Kết luận

Mỗi đất nước đều có những vẻ đẹp riêng và những bản sắc dân tộc không thể nhầm lẫn. Và bài hát quốc ca chính là biểu tượng cho tinh thần dân tộc độc lập ấy. Từng hoàn cảnh hình thành đất nước mà bài hát quốc ca sẽ có những định hướng nội dung và ý nghĩa khác nhau.

Đó là lí do chúng ta cần học quốc ca của một quốc gia khi sinh sống và làm việc tại đó. Vì đơn giản, để hiểu con người bản xứ thì bạn có thể nhìn thêm một góc nhìn qua đời sống văn hóa nghệ thuật, qua một bài hát đại diện cho hồn thiêng sông núi, cho tinh thần của cả dân tộc ấy!

Cập nhật thông tin chi tiết về Quốc Tịch Úc Và Bản Sắc Của Người Việt trên website Thanhlongicc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!