Ý Nghĩa Của Từ “Amen”

Chi tiết Đăng bởi : Ban Truyền Thông

Xin cho biết nghĩa tiếng Amen, Alleluia đọc trong thánh lễ?

Đáp:

tiếng Do thái (Hebrew: aman) nghĩa là làm cho mạnh sức ( strengthen) Khi dùng trong Kinh thánh và Phụng vụ, có nghĩa là “như vậy đó, mong được như vậy”(so be it). Sau khi người kia nói điều gì, người này kêu lên: như vậy đó.

Amen dùng kết lời cầu nguyện để tỏ lòng mong ước: mong được như vậy. Khi nhóm người đọc Amen sau lời nguyện có nghĩa họ đồng ý với tâm tình và cảm nghĩ diễn tả trong lời cầu nguyện. Khi linh mục trao Mình Thánh ta thưa Amen là ta tuyên xưng Mình Thánh chính là Chúa Giêsu. Amen giống như OK trong Anh văn.

Trong sách Khải huyền, thánh Gioan gọi Chúa Kitô là Đấng Amen: Kh 3,14 “Hãy viết cho thiên thần của Hội Thánh Laođikia, Đây là lời của Đấng Amen, là Chứng Nhân trung thành và chân thật, là Khởi Nguyên của mọi loài Thiên Chúa tạo dựng.

). Đây là cách nói đặc biệt bởi vì không thấy có nơi các bản văn khác trong cùng thời đại. Dường như lối nói này muốn bảo đảm cho chân lý của lời nói nhờ vào thẩm quyền của người nói. Lại nữa, sách Khải Huyền loan báo Chúa Giêsu là Đấng Amen: ” Các cộng đoàn kitô hữu tiên khởi, dù không nói tiếng Do Thái, vẫn kết thúc lời kinh bằng từ “Amen” trong tiếng Do Thái.

” Amen ” được dịch là ” Xin được như vậy ! ” (tiếng Pháp là ” ainsi soit-il! “), nhưng như thế cũng không chuyển tải hết được những ý nghĩa khác nhau của từ “amen” trong tiếng Do Thái. Trong nguyên ngữ, ” amen ” nói lên sự chắc chắn, chân lý và sự trung tín. Nói “amen”, có nghĩa là “Vâng, đúng vậy, chắc như thế!”. Ngôn sứ Isaia còn nói rằng Chúa là Thiên Chúa của “amen” (Is 65,16 ), một vị Thiên Chúa mà ta có thể tin tưởng, Đấng nói và giữ lời. Hãy viết cho thiên thần của Hội Thánh Laođikia: Đây là lời của Đấng Amen, là Chứng Nhân trung thành và chân thật, là Khởi Nguyên của mọi loài Thiên Chúa tạo dựng ” (Kh 3,14 Trong Kinh Thánh, người ta đáp tiếng “amen” để nói lên sự gắn bó của mình với một lời chúc lành, chúc dữ hay một công bố long trọng nào đó. Chính vì thế, từ này đã trở nên một lời thưa trong phụng vụ. Chẳng hạn, trong sách 1 Sử Biên Niên 16,35-36 chép rằng: ” Hãy nói: lạy Thiên Chúa Đấng cứu độ chúng con, xin thương quy tụ chúng con về, cứu chúng con từ giữa muôn dân nước, để chúng con cảm tạ Thánh Danh, và được hiên ngang tán dương Ngài. Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Israel, từ muôn thuở cho đến muôn đời! ” Và toàn dân hô lớn: “Amen! Halêluia! “, đây là cách thức để đám đông dân chúng đáp trả lại lời kinh Tạ Ơn, để lời kinh nguyện trở nên lời kinh của chính mình. Nhiều tiếng “amen” cũng được sử dụng trong các Thánh Vịnh. Sách Khải Huyền cũng dùng từ “amen” trong bối cảnh bài thánh ca phụng vụ để tăng sức nặng cho những điều đã được khẳng định.

Trong các Tin Mừng, tiếng “amen” được dùng theo cách khác. Thỉnh thoảng trong Tin Mừng Thánh Gioan người ta nhân đôi tiếng “amen”. ” Amen, amen, tôi bảo thật các anh …” (Ga 1,51 ). Ta hiểu điều này chỉ muốn nói rằng Ngài chính là chân lý. Vậy thì mỗi lần đáp lời thưa ” amen “, bạn hãy quyết chắc rằng mình hoàn toàn đồng ý với những gì được nói bởi vì thưa “amen” là bạn quả quyết rằng đó là sự thật và là điều chắc chắn.

Bản dịch CGKPV : ” Thiên Chúa chân thật” ; bản dịch Cha Nguyễn Thế Thuấn: ” Thiên Chúa danh hiệu Amen ”

Bản dịch CGKPV : ” Thật, tôi bảo các anh” ; bản dịch Cha Nguyễn Thế Thuấn: ” Quả thật, quả thật, ta bảo các ngươi ”

, Tiếng Dothái có nghĩa: “Chúc tụng Chúa” Thường dùng trong khi cầu nguyện hay thờ phượng trong đền thờ. Linh mục kêu: ‘hallelu’ (hãy ca tụng) và toàn dân kêu phần đầu của tên Chúa Yahweh. Và thế là có tiếng ‘hallelu’-Ya!”

http://gpquinhon.org/qn/news/than-hoc-kinh-thanh/Y-nghia-cua-tu-Amen-990/#.U1SYI1WSyNA

http://www.xuanha.net/Kh-Hoidesongdao/64nghia%20AmenAlleluia.html

Gato Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Từ Gato Là Gì? Ý Nghĩa Của Từ Gato

Gato nghĩa là gì? giải thích ý nghĩa của từ Gato trên Facebook với tính đố kị với thành công của người khác cho đến loại bánh ngọt nhiều kem nổi tiếng. Người ta hay gọi thói ghen ăn tức ở, hay chê bai nói xấu người khác là Gato, được dùng phổ biến trên mạng xã hội. Ngoài ra, đây còn là loại bánh hay dùng trong các buổi mừng sinh nhật xuất phát từ tên tiếng Pháp. Vậy bạn đã biết GATO là viết tắt của cụm từ nào chưa.

Đang xem: ý nghĩa của từ gato

1 – Gato nghĩa là gì?

GATO là gì?

GATO là từ lóng của giới trẻ, được viết tắt từ cụm từ Ghen Ăn Tức Ở, để chỉ thái đệ ganh ghét, đố kỵ với người khác. Đây là tâm lý hay tức tối, ghen tị với thành công hay sắc đẹp, sự may mắn hay lợi thế của người khác. Đi kèm với thói Gato là những lời chê bai, nói xấu.

Gato còn để chỉ tính cách hay đố kỵ, cứ thấy ai hơn mình cái gì là nói xấu và dè bỉu nhằm dìm hàng họ. Giống như kiểu bóc phốt trong giới nghệ sĩ vậy. Ví dụ “Anh Hùng hay quan tâm tao nên con bé thảo hay GATO với tao lắm”, hoặc “Con Trang tính hay Gato lắm mày ạ, tao nói gì nó cũng bĩu môi rồi còn hay nói xấu tao nữa chứ”.

2 – Ý nghĩa khác của Gato

Phải nói, thói GATO người khác là không tốt bởi chẳng ai hoàn hảo cả. Việc hay so sánh bản thân, rồi thấy mình thua bè kém bạn lại sinh ra ghen ăn tức ở, cố gắng dìm hàng người khác để mình có thể vượt trên họ thì không tốt chút nào.

Ngoài ra, Ga-tô phát âm tiếng Việt giống với từ Gateaux trong tiếng Pháp, để chỉ loại bánh ngọt nhiều kem với trang trí bắt mắt hay dùng trong các lễ sinh nhật, cưới hỏi, kỷ niệm. Bánh Gato được bày bán nhiều tại các cửa hàng bánh ngọt.

3 – Biểu hiện của người hay gato

Sự đố kỵ xuất phát từ những kẻ đứng dưới

Trong ngôn ngữ giới trẻ có một thuật ngữ là: “gato tri thức”. Thuật ngữ này chỉ những người trong cuộc sống thường xuyên thể hiện mình hơn người theo kiểu ngụy quân tử. Những người gato kiểu này thường không hề ồn ào, cũng rất ít thể hiện bản thân, quan điểm, chính kiến của mình một cách bừa bãi. Họ là người luôn im ỉm, thi thoảng đá xoáy, nói xấu, thậm chí là đổ thêm dầu vào lửa, cho thêm “ít muối” vào trong câu chuyện hoặc đối tượng mà họ ganh tị, ghét bỏ. Mà “nạn nhân” của “gato tri thức” thường là những người giỏi hơn họ, xinh đẹp hơn họ, được người khác yêu mến hơn 

Bên cạnh đội gato tri thức còn có một đội gọi là “gato trẻ trâu”. Những trường hợp này dễ nhận biết hơn vì họ ngược lại hoàn toàn với đội bên trên, có gì nói nấy, đánh thẳng mặt.

Ví dụ phổ biến nhất, dễ thấy nhất trên cộng đồng hiện nay: Khi ta đăng ảnh đẹp lung linh thì sẽ có những bạn Gato vào ném đá không thương tiếc như “mặt chát cả tấn phấn”, “360 độ thôi chứ ngoài đời như thị nở”, “con này chắc đi đào mỏ được anh đại gia nào rồi”… khi chúng ta bị nhắm bởi các bạn gato thì sẽ có hàng tỉ lý do để bêu xấu nhau. Sự gato trẻ trâu cũng đơn giản xuất phát từ sự hiếu thắng và ít kinh nghiệm sống. Họ giống như việc “ếch ngồi đáy giếng vậy”.

4 – Những từ gato thường được sử dụng

Mày Gato với tao à?

Câu này ám chỉ những người đang ghen ăn tức ở hoặc ghen tị với cuộc sống, những thứ bạn đang có được

Ăn bánh gato không?

Câu này quá đơn giản rồi đúng không các bạn? Ý của họ là đang mời bạn ăn bánh gato đó. Họ mời thì mình ăn thôi. Đừng suy nghĩ nhiều quá làm gì.

Mày bị ăn bánh GATO chứ gì?

Câu này là sự nâng cấp kết hợp lên một tầm cao mới. Khi họ nói nghĩa đen nhưng bạn phải hiểu ngay theo nghĩa bóng của câu này là: Mày chắc bị đứa nào đó làm mày phải ghen tị hoặc mày bị nó làm cho nổi cơn “ghen” chứ gì?

Thằng GATO!

Câu này được sử dụng nhiều ở các vùng miền mang hàm ý muốn nói là thằng gà tồ. Câu này rất ít được sử dụng hoặc thấy trong cuộc sống hằng ngày. Vậy nên, khi ai đó bảo bạn là một Thằng GATO nghĩa là họ đang nói rằng bạn còn ngu ngơ không hiểu vấn đề đó. 

Thằng G.A.T.O!

Thay vì đọc là “Ga tô” thì người đọc sẽ sờ píc ing lích là “Gi Ây Ti ôh” cũng mang theo nghĩa đen là ghen tị nhưng lại đọc theo hướng sang chảnh hơn. 

Hy vọng qua bài viết này mọi người đã hiểu ý nghĩa của từ GATO là gì và Gato viết tắt của từ nào rồi. Nhiều bạn cứ nghĩa Gato là xuất phát từ một từ tiếng Anh nào đó, nhưng ít ai ngờ lại viết tắt của cụm từ tiếng Việt “Ghen Ăn Tức Ở” chỉ thói hay đố kỵ, nói xấu người khác. Mong rằng các bạn sẽ không nhiễm tính Gato để sống hòa đồng với mọi người hơn.

Ý Nghĩa Ngữ Pháp Của Từ

LÊ Đình Tư (Trích từ: Lê Đình Tư & Vũ Ngọc Cân. Nhập môn ngôn ngữ học. Hà Nội, 2009)

Việc xác định ý nghĩa ngữ pháp của từ trong các ngôn ngữ có thể không giống nhau. Trong các thứ tiếng không biến hình, như tiếng Việt chẳng hạn, việc xác định ý nghĩa ngữ pháp thường phải dựa vào những đơn vị lớn hơn từ, tức là dựa vào khả năng kết hợp của từ với những từ khác. Ví dụ, từ ‘bàn’ trong tiếng Việt có thể là danh từ nếu nó nằm trong kết cấu ‘cái bàn’, song cũng có thể là động từ, nếu nó nằm trong ‘sẽ bàn’. Trong khi đó thì ở các ngôn ngữ biến hình, việc xác định ý nghĩa ngữ pháp của từ có vẻ dễ dàng hơn nhiều, vì người ta chỉ cần căn cứ vào cấu tạo của bản thân một từ nào đó mà thôi. Ví dụ: Trong tiếng Nga, xét một từ như ‘kraxivưi’ (đẹp) chẳng hạn, ta có thể khẳng định ngay rằng nó là một tính từ giống đực và là tính từ ở số ít… Sở dĩ ta có thể làm được điều đó là vì trong cấu tạo của từ này, có một dấu hiệu hình thức biểu thị những ý nghĩa ngữ pháp của từ: đó chính là biến tố [-ưi].

Những từ có chứa đựng dấu hiệu hình thức biểu thị các loại ý nghĩa ngữ pháp như vậy gọi là từ có cấu tạo hình thái. Đương nhiên, không phải tất cả các từ trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có cấu tạo hình thái. Chẳng hạn, các từ trong tiếng Việt không có cấu tạo hình thái, nhưng phần lớn các từ của các thứ tiếng biến hình, như Nga, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, đều có cấu tạo hình thái. Tuy nhiên, hệ thống cấu tạo hình thái của các từ trong các ngôn ngữ biến hình cũng không giống nhau. Có những ngôn ngữ hệ thống cấu tạo hình thái của từ rất phong phú (ví dụ như các ngôn ngữ Xlavơ), nhưng cũng có những ngôn ngữ, trong đó hệ thống cấu tạo hình thái lại khá nghèo nàn. Ví dụ như trong tiếng Anh, với một dạng thức từ như ‘love’, chúng ta khó có thể nói ngay là nó có ý nghĩa ngữ pháp gì, vì dạng thức này có thể là động từ, danh từ, hoặc tính từ, tuỳ thuộc vào sự kết hợp của nó với các từ khác. Tuy nhiên, dạng thức ‘loved’ của nó lại có thể cho ta biết ngay đây là thời quá khứ của động từ, hoặc đây là một tính động từ.

Như vậy, ngoài việc phân tích cấu tạo của từ để tìm hiểu các phương thức tạo từ mới trong các ngôn ngữ, ta còn có thể phân tích cấu tạo từ để tìm ra các dấu hiệu hình thức biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp. Việc phân tích từ như vậy gọi là phân tích cấu tạo hình thái của từ. Nhờ kết quả phân tích cấu tạo hình thái của từ, ta có thể biết được trong một ngôn ngữ cụ thể, các loại ý nghĩa ngữ pháp được thể hịên như thế nào. Thông thường, để nhận biết các dấu hiệu hình thức biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp của từ, người ta có thể đối lập các từ với nhau hoặc đối lập các dạng thức khác nhau của cùng một từ. Chẳng hạn, trong tiếng Nga, đối lập các từ ‘ozero’ (cái hồ) với ‘reka’ (sông), ta nhận biết được [-o] là dấu hiệu hình thức biểu thị “giống trung” của từ ‘ozero’, còn [-a] là dấu hiệu hình thức biểu thị giống cái của từ ‘reka’; song đối lập dạng thức ‘reka’ với dạng thức ‘reki’ (các dạng thức khác nhau của cùng một từ), ta nhận biết được [-a] là dấu hiệu hình thức biểu thị số ít, còn [-i] là dấu hiệu hình thức biểu thị số nhiều của từ ‘reka’. Những dấu hiệu hình thức dùng để biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp gọi là ‘hình vị ngữ pháp’.

2. Các loại ý nghĩa ngữ pháp

Cũng giống như ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp là một phạm trù ý nghĩa, trong đó bao gồm một số thành phần ý nghĩa cụ thể hơn. Tuy nhiên, khác với trường hợp ý nghĩa từ vựng, vốn là phạm trù ý nghĩa bao gồm các thành phần ý nghĩa bộ phận giống nhau trong các ngôn ngữ (ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa ngữ dụng), trong phạm trù ý nghĩa ngữ pháp, số lượng các thành phần ý nghĩa bộ phận có thể rất khác nhau giữa các ngôn ngữ: có ngôn ngữ, hệ thống ý nghĩa ngữ pháp của từ rất nghèo nàn, như tiếng Việt chẳng hạn, nhưng có những ngôn ngữ, hệ thống ý nghĩa ngữ pháp lại rất phong phú, ví dụ như tiếng Nga. Số lượng ý nghĩa ngữ pháp nhiều hay ít phụ thuộc vào từng ngôn ngữ hoặc từng loại hình ngôn ngữ.

Kết quả phân tích cấu tạo hình thái của các từ và/hoặc khả năng kết hợp của các từ trong một ngôn ngữ sẽ cho ta biết tổng số ý nghĩa ngữ pháp của ngôn ngữ đó.

Tổng hợp tất cả các loại ý nghĩa ngữ pháp trong các ngôn ngữ cho phép ta phân biệt những loại ý nghĩa ngữ pháp sau đây:

2.1 Ý nghĩa từ pháp hay ý nghĩa hình thái

Đó là ý nghĩa được phản ánh qua kiểu cấu tạo hình thái của từ và hệ biến đổi hình thái (gọi tắt là hệ biến thái) của nó, nếu có. Chẳng hạn, từ ‘reader’ (độc giả) trong tiếng Anh chỉ cho ta biết những thông tin ngữ pháp sau:

– Nó là một danh từ, – Nó là một danh từ số ít,

Song, một danh từ tiếng Nga còn có thể cho ta biết về hệ biến đổi hình thái của nó. Ví dụ: Từ ‘xtudentka’ (nữ sinh viên) với vĩ tố [-a] cho ta biết các ý nghĩa ngữ pháp sau:

– Nó là một danh từ giống cái, – Nó là một danh từ số ít, – Nó là một danh từ ở nguyên cách (chủ cách),

và danh từ này sẽ biến đổi theo hệ biến đổi hình thái đặc trưng cho những danh từ giống cái có vĩ tố [-a] (ví dụ, ở sở hữu cách số ít: [-i]; ở tặng cách số ít:[-e]; ở đối cách số ít: [-u], v.v…).

2.3 Ý nghĩa từ loại

Con công xòe rộng cái đuôi.Khúc sông chỗ này rất rộng.

Ý nghĩa từ loại của từ có thể được biểu thị bằng các hình vị ngữ pháp (ví dụ: [-er] trong tiếng Pháp hay [-at’] trong tiếng Nga biểu thị ý nghĩa ‘động từ’), nhưng cũng có thể không được thể hiện qua hình thức của từ, và do đó chỉ có thể nhận biết được ý nghĩa này của từ bằng cách phân tích những đơn vị lớn hơn từ, như trong tiếng Việt chẳng hạn.

(còn nữa)

(Hot 2024) Ý Nghĩa Của Từ Thông

Ý nghĩa của từ thông là gì? Công thức tính từ thông ra sao? Từ thông được tính bằng đơn vị là gì? Hiện tượng cảm ứng điện từ là gì? Ứng dụng của hiện tượng cảm ứng điện từ trong công nghiệp và trong đời sống?

Đó là tất cả những thông tin mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu trong bài viết hôm nay.

Như ta đã được học trước dây, từ thông cảm ứng điện từ là một hiện tượng vật lý được tìm ra bởi nhà vật lý học và hóa học người Anh tên là Michael Faraday. Những sáng chế của ông ta về những thiết bị có điện trường quay đã đặt nền móng cho công nghệ động cơ điện, và ông có công lớn khi làm cho điện có thể sử dụng trong ngành công nghệ.

Vì thế nên ta có thể nói, Faraday là người đã đưa thế giới sang một trang khác, một nền văn minh khác – nền văn minh sử dụng điện như ngày nay.

Từ thông (hay còn được gọi là thông lượng từ trường) là một đại lượng đo lượng từ trường qua một diện tích được giới hạn bởi một vòng dây kín.

Từ thông được ký hiệu bằng ký tự Φ (đọc là “phi”). Và Φ chính là chữ cái số 21 trong bảng chữ cái bằng tiếng Hy Lạp.

Cũng giống như các đại lượng vật lý khác, từ thông cũng có đơn vị tính riêng của nó.

Có nhiều đơn vị của từ thông, tùy theo hệ quy chuẩn. Trong đó, từ thông sẽ có các đơn vị như:

Trong hệ tiêu chuẩn SI, đơn vị của từ thông là Weber (viết tắt là Wb) – đọc là “vê be”.

Còn theo hệ tiêu chuẩn CGS, đơn vị của từ thông là Maxwell.

Ngoài ra, ta còn có đơn vị của từ thông trong đơn vị nền tảng là Volt-giây.

Từ thông riêng của một mạch kín phụ thuộc vào?

Để tìm hiểu về vấn đề này, ta cùng tham khảo hình vẽ sau:

Diện tích S: khi diện tích S càng lớn thì lượng từ thông đi qua nó càng lớn.

Ta có thể hiểu đơn giản như khi bạn lấy 1 tờ giấy và chắn ngang 1 cái quạt đang quay. Nếu tờ giấy càng lớn thì sức cản gió của nó sẽ càng nhiều. Từ thông cũng tương tự vậy.

Cảm ứng từ B: Như ta đã biết, cảm ứng từ là đại lượng đặc trưng cho độ mạnh hay yếu của từ trường. Mà từ thông lại là đại lượng đặc trưng cho lượng từ trường. Chứng tỏ rằng từ thông sẽ lớn khi lượng từ trường đi qua mặt phẳng lớn. Hoặc có thể nói là từ thông sẽ tỉ lệ thuận với cảm ứng từ.

Độ lớn của góc α:

– Góc α là góc được tạo bởi vector pháp tuyến n và đường cảm ứng từ B (như trên hình vẽ).

-Khi ta thay đổi đổi độ lớn của góc α thì từ thông cũng sẽ thay đổi. Trong đó, khi góc α là 45 độ, tức là vector pháp tuyến vuông góc với đường cảm ứng từ B thì từ thông sẽ có giá trị lớn nhất. Và khi góc α là 0 độ, tức là vector pháp tuyến song song với đường cảm ứng từ thì sẽ không có từ thông.

Từ đó, người ta chứng minh được rằng từ thông tỉ lệ thuận với độ lớn của góc α.

Từ đó, ta có thể suy ra:

Từ thông riêng của một mạch kín phụ thuộc vào 3 yếu tố: diện tích mặt phẳng S, cảm ứng từ B và độ lớn của góc α.

Theo như khả năng phụ thuộc vào từ thông với các đơn vị diện tích; cảm ứng từ, độ lớn góc α; người ta tính từ thông dựa theo công thức:

Trong đó:

Φ: là từ thông

N: số vòng dây

B: cảm ứng từ

S: diện tích của 1 vòng dây (đơn vị là m2)

α: là góc được tạo bởi vector pháp tuyến n và B

Hiện tượng cảm ứng điện từ là gì?

Theo như định nghĩa ngày xưa ta đã được học thì hiện tượng cảm ứng điện từ là hiện tượng từ thông qua mạch kín biến thiên (tăng hay giảm). Khi đó trong mạch điện sẽ xuất hiện dòng điện. Dòng điện này được gọi là dòng điện cảm ứng.

Hiện tượng cảm ứng điện từ xảy ra khi nào?

Hiện tượng cảm ứng điện từ chỉ xuất hiện trong khoảng thời gian từ thông qua mạch kín có biến thiên. Nói đơn giản hơn, hiện tượng cảm ứng điện từ chỉ xuất hiện khi có sự tăng/giảm của từ thông trong mạch kín.

Để tìm hiểu kỹ hơn, ta sẽ cùng tham khảo qua thí nghiệm nổi tiếng của Faraday như sau:

Lấy 1 cuộn dây điện có nhiều vòng và nối với 1 điện kế G thành 1 mạch kín. Ông nhận ra rằng khi ông đưa 1 thanh nam châm vào ống dây điện; kim của điện kế bị lệch đi (hình phía trên). Điều này chứng tỏ rằng trong cuộn dây đã xuất hiện dòng điện. Dòng điện này chính là dòng điện cảm ứng điện từ (ký hiệu là Ic).

Tiếp theo, ông đưa thanh nam châm ra khỏi cuộn dây, ông nhận thấy bên trong ống dây vẫn xuất hiện 1 dòng điện có hướng ngược lại với chiều của thanh nam châm.

Khi ông di chuyển nhanh thanh nam châm trong cuộn dây, độ lớn của dòng điện cảm ứng càng lớn.

Và khi ông đặt thanh nam châm đứng yên, dòng điện trong cuộn dây biến mất.

Tiếp theo, ông thay thanh nam châm bằng 1 ống dây có dòng điện đi qua thì vẫn thu được kết quả tương tự.

Từ đó, ông đã kết luận:

Từ thông gửi qua mạch kín biến đổi theo thời gian là nguyên nhân sinh ra dòng điện cảm ứng trong mạch đó.

Dòng điện cảm ứng chỉ tồn tại trong thời gian từ thông gửi qua mạch kín biến đổi.

Cường độ dòng điện cảm ứng tỉ lệ thuận với tốc độ biến đổi của từ thông.

Chiều của dòng điện cảm ứng phụ thuộc vào sự tăng hay giảm của từ thông gửi qua mạch.

Và đây cũng là nội dung chính của định luật Faraday.

Cũng nghiên cứu về hiện tượng cảm ứng điện từ, nhà vật lý người Đức Heinrich Lenz đã tìm ra định luật giúp ta xác định được chiều của dòng điện cảm ứng điện từ.

Nội dung của định luật như sau:

“Chiều của dòng điện cảm ứng trong dây dẫn sinh ra bởi sự biến thiên của từ trường tuân theo định luật cảm ứng Faraday sẽ tạo ra một từ trường chống lại sự biến thiên từ thông đã sinh ra nó”.

Ðiều này có nghĩa là khi từ thông qua mạch tăng lên, từ trường cảm ứng sinh ra có tác dụng chống lại sự tăng của từ thông: từ trường cảm ứng sẽ ngược chiều với từ trường ngoài.

Nếu từ thông qua mạch giảm, từ trường cảm ứng (do dòng điện cảm ứng sinh ra nó) có tác dụng chống lại sự giảm của từ thông, lúc đó từ trường cảm ứng sẽ cùng chiều với từ trường ngoài.

Như vậy, theo định luật Lenz, dòng điện cảm ứng bao giờ cũng có tác dụng chống lại sự dịch chuyển của thanh nam châm. Do đó, để dịch chuyển thanh nam châm, ta phải tốn công. Chính công mà ta tốn được biến thành điện năng của dòng điện cảm ứng.

Ý nghĩa của từ thông – Ứng dụng của cảm ứng điện từ trong đời sống:

Thực tế, có rất nhiều những vật dụng hoạt động dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ.

Một vài ứng dụng của nó trong đời sống như:

Một ứng dụng của cảm ứng từ chính là bếp từ (hay còn gọi là bếp điện từ).

Khác với các loại bếp làm nóng bằng lửa hoặc bằng điện thì bếp từ hoạt động dựa trên nguyên lý của hiện tượng cảm ứng điện từ.

Cấu tạo của bếp từ sẽ bao gồm một cuộn dây được đặt dưới một vật liệu cách nhiệt (thường là mặt bếp bằng gốm thủy tinh). Cuộn dây này sẽ có từ trường biến thiên tần số cao có thể thay đổi được.

Khi ta cắm điện bếp từ, một dòng điện xoay chiều được truyền qua cuộn dây đồng này và sẽ sinh ra trên cuộn dây 1 từ trường biến thiên.

Khi đặt nồi lên bếp, đáy nồi sẽ bị nhiễm từ và sinh ra dòng điện Fu-cô.

Do tác dụng của dòng Fu-cô, nồi nấu chịu tác dụng của lực hãm điện từ, từ đó; gây ra hiệu ứng tỏa nhiệt Jun – Lenxơ và làm nóng đáy nồi cũng như thức ăn bên trong.

Các loại quạt điện nói chung hay các thiết bị làm mát nói chung đều hoạt động dựa trên nguyên lý của hiện tượng cảm ứng điện từ.

Trong đó, dòng điện sẽ được biến đổi thành từ trường và làm quay động cơ, cánh quạt.

Ý nghĩa của từ thông – Ứng dụng của cảm ứng điện từ trong công nghiệp: Tạo ra dòng điện xoay chiều – chế tạo máy phát điện:

Cấu tạo chính của máy phát điện sẽ bao gồm các dây dẫn điện được quấn trên 1 lõi sắt (được gọi là Stato) và 1 nam châm vĩnh cửu.

Dòng điện Fu-cô chạy trong kim loại chuyển cơ năng thành năng lượng của dòng điện. Nguồn cơ năng sơ cấp có thể là động cơ tua bin hơi, tua bin nước, tua bin gió; động cơ đốt trong và các nguồn cơ năng khác.

Hay còn được gọi là máy biến dòng điện hoặc C.T (Current Transformer).

Đây là một thiết bị chuyên dùng để biến đổi dòng điện có giá trị cao sang dòng chuẩn 5A hoặc 10A.

Có thể nói tất cả các thiết bị điện trong nhà máy đều phải thông qua máy biến dòng để tránh tình trạng bị chập cháy hoặc dòng điện tăng/giảm đột ngột gây hư hỏng thiết bị.

Bạn có thể tham khảo bài viết về thiết bị này tại địa chỉ:

Máy biến dòng là gì?

Biến đổi dòng điện xoay chiều:

Một ứng dụng quan trọng khác của cảm ứng điện từ là máy biến điện. Máy biến áp là một thiết bị thay đổi năng lượng điện xoay chiều ở một cấp điện áp sang cấp khác; thông qua hoạt động của từ trường. Một máy biến áp giảm áp là trong đó điện áp trong sơ cấp cao hơn điện áp thứ cấp. Ngược lại là máy tăng áp. Các công ty điện lực sử dụng một máy tăng áp để tăng điện áp lên 100 kV; giúp giảm dòng điện và giảm thiểu tổn thất điện năng trong các đường dây truyền tải. Mặt khác, các mạch điện gia dụng sử dụng các máy giảm áp để giảm điện áp xuống hoặc 220V để sử dụng các thiết bị điện trong nhà.

Các loại cảm biến đo lưu lượng:

Máy đo lưu lượng điện từ hay cảm biến đo lưu lượng được sử dụng để đo vận tốc của một số chất lỏng.

Cấu tạo của các loại cảm biến đo lưu lượng này là 1 đường ống cách điện; trong đó chất lỏng đang chảy.

Theo định luật Faraday, một lực điện động được tạo ra trong nó. Suất điện động cảm ứng này tỷ lệ thuận với tốc độ của chất lỏng chảy.

Khi tính được suất điện động này, ta sẽ tính ra được tốc độ của chất lỏng chảy trong đường ống.

Thanks.

Tính Từ Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Tính Từ

Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Tính từ là gì

Định nghĩa Tính từ là gì?

Tính từ là từ dùng để chỉ tính chất, tính cách, màu sắc, trạng thái, mức độ, phạm vi…của người hoặc vật. Tính từ bổ nghĩa cho danh từ, đại từ và liên động từ. Phân biệt từ chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất, từ chỉ trạng thái :

Đặc điểm là nét riêng biệt, là vẻ riêng của một một sự vật nào đó ( có thể là người, con vật, đồ vât, cây cối,…). Đặc điểm của một vật chủ yếu là đặc điểm bên ngoài (ngoại hình ) mà ta có thể nhận biết trực tiếp qua mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi,… Đó là các nét riêng , vẻ riêng về màu sắc , hình khối, hình dáng, âm thanh,…của sự vật . Đặc điểm của một vật cũng có thể là đặc điểm bên trong mà qua quan sát,suy luận, khái quát,…ta mới có thể nhận biết được. Đó là các đặc điểm về tính tình, tâm lí, tính cách của một người, độ bền, giá trị của một đồ vật…

Từ chỉ đặc điểm là từ biểu thị các đặc điểm của sự vật, hiện tượng như đã nêu ở trên.

Từ chỉ đặc điểm bên ngoài : Cao, thấp, rộng , hẹp, xanh, đỏ,…

Từ chỉ đặc điểm bên trong : tốt ,ngoan, chăm chỉ, bền bỉ,…

Tính chất cũng là đặc điểm riêng của sự vật, hiện tượng (bao gồm cả những hiện tượng xã hội, những hiện tượng trong cuộc sống,…), nhưng thiên về đặc điểm bên trong, ta không quan sát trực tiếp được, mà phải qua quá trình quan sát, suy luận, phân tích , tổng hợp ta mới có thể nhân biết được. Do đó , từ chỉ tính chất cũng là từ biểu thị những đặc điểm bên trong của sự vật, hiện tượng.

Tốt, xấu, ngoan, hư, nặng ,nhẹ, sâu sắc, nông cạn, suôn sẻ, hiệu quả, thiết thực,…

Như vậy, từ chỉ đặc điểm thiên về nêu các đặc điểm bên ngoài , còn từ chỉ tính chất thiên về nêu các đặc điểm bên trong của sự vật, hiện tượng. Trạng thái là tình trạng của một sự vật hoặc một con người, tồn tại trong một thời gian nào đó. Từ chỉ trạng thái là từ chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan. Có một số cách thể hiện mức độ của đặc điểm, tính chất như sau: Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho

Với tính từ trắng ta có thể tạo ra từ ghép ( trắng tinh) và từ láy ( trăng trắng) .