Kết Quả Xét Nghiệm Máu Procalcitonin Và Ý Nghĩa Của Chúng

Làm thế nào các bác sĩ sử dụng một xét nghiệm máu Procalcitonin để giúp chẩn đoán bệnh nhiễm trùng

Procalcitonin (PCT) là một xét nghiệm máu thường xuyên được thực hiện nếu có nghi ngờ rằng bệnh nhân có thể bị nhiễm khuẩn huyết , nhiễm trùng hệ thống nghiêm trọng có thể trở thành đe dọa tính mạng. Xét nghiệm procalcitonin là một cách để chẩn đoán nhanh và có khả năng hơn cứu sống.

Diễn giải kết quả Procalcitonin

Ở một người khỏe mạnh, procalcitonin khó có thể được nâng lên.

Nếu một người bị bệnh, và nhiễm trùng huyết nghi ngờ, phòng thí nghiệm procalcitonin sau đó sẽ được rút ra để giúp xác định xem có nhiễm trùng hay không. Điều quan trọng cần lưu ý là procalcitonin không chẩn đoán một loại nhiễm trùng; thay vào đó, nó cho thấy khả năng một nhiễm trùng có thể có mặt. Nếu xét nghiệm procalcitonin dương tính, bác sĩ sẽ xem xét các xét nghiệm bổ sung và khám lâm sàng của bệnh nhân để xác định xem có nhiễm trùng hay không và cách điều trị.

Nếu nghi ngờ nhiễm trùng huyết, xét nghiệm bổ sung, chẳng hạn như cấy máu và đếm máu hoàn toàn (CBC) , thường được thực hiện để xác định xem có nhiễm trùng huyết hay không, và để xác định sinh vật nào gây nhiễm trùng. Trong một số trường hợp, procalcitonin được sử dụng để phân biệt giữa nhiễm trùng nghiêm trọng tại địa phương, chẳng hạn như nhiễm trùng đường hô hấp và nhiễm trùng đã trở nên có hệ thống.

Nhiễm trùng cục bộ so với nhiễm trùng toàn thân (Nhiễm trùng huyết)

Nhiễm trùng cục bộ nằm ở một phần cụ thể của cơ thể; ví dụ như nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng răng hoặc nhiễm trùng xương.

Nhiễm trùng huyết là một bệnh nhiễm trùng toàn thân đã đi vào máu và đang di chuyển đến tất cả các khu vực của cơ thể. Mặc dù nhiễm trùng cục bộ có thể đe dọa đến tính mạng, nhiễm trùng huyết có nhiều khả năng trở nên nghiêm trọng và đảm bảo sự can thiệp y tế lớn.

Kết quả Procalcitonin

Trong khi kết quả thử nghiệm procalcitonin nên được bác sĩ hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe được đào tạo khác giải thích, kết quả thường được hiểu như sau:

Procalcitonin 0-.05 µg / L được mong đợi ở một người khỏe mạnh.

Nồng độ procalcitonin dưới 0,5 µg / L có thể chỉ ra nhiễm trùng, nhưng mức độ này không có khả năng là nhiễm trùng hệ thống như nhiễm trùng huyết. Một nhiễm trùng tại chỗ, chẳng hạn như nhiễm trùng răng hoặc nhiễm trùng đường hô hấp, có thể có mặt.

Mức procalcitonin trong khoảng từ 5 – 2 µg / L cho thấy có thể nhiễm trùng toàn thân, nhưng không chẩn đoán nhiễm trùng huyết.

Nồng độ Procalcitonin 2-10 µg / L cho thấy có khả năng nhiễm trùng huyết.

Kết quả Procalcitonin từ 10 µg / L trở lên cho thấy khả năng nhiễm trùng huyết nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn cao và thường điều trị bằng thuốc IV và chất lỏng được bắt đầu ngay lập tức.

Kết quả procalcitonin cũng có thể được sử dụng để xác định xem nhiễm trùng có khả năng gây ra do vi khuẩn hoặc vi rút hay không. Nếu một nhiễm trùng được biết là có mặt, và mức độ procalcitonin là rất thấp, sự hiện diện của vi khuẩn là không, và nó có nhiều khả năng là nhiễm trùng đang được gây ra bởi một loại virus. Điều này có thể ngăn ngừa việc sử dụng kháng sinh không cần thiết, vì virus không thể điều trị bằng liệu pháp kháng sinh.

Các nguyên nhân khác của Procalcitonin cao

Ngoài nhiễm khuẩn huyết, còn có thêm lý do tại sao một người có thể có mức procalcitonin cao.

Ví dụ, ở trẻ sơ sinh, mức bình thường trong máu cao mà không có nhiễm trùng. Chấn thương – đặc biệt nghiêm trọng chấn thương hoặc phẫu thuật – cũng có thể gây ra một kết quả cao mà không có sự hiện diện của nhiễm trùng huyết. Một số loại thuốc, sốc không gây ra bởi nhiễm trùng huyết, và thậm chí ung thư cũng có thể gây tăng nồng độ procalcitonin.

Điều kiện làm giảm mức độ oxy có sẵn cho các mô của cơ thể, bất kể nguyên nhân gốc rễ, có thể gây ra procalcitonin cao khi không có nhiễm trùng. Đây có thể là do lượng oxy giảm do hen suyễn hoặc viêm phổi đến ngừng tim .

Mức độ Procalcitonin thấp có hoặc không có nhiễm trùng huyết

Có thể cho bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết với mức procalcitonin thấp. Nếu xét nghiệm được thực hiện rất sớm trong quá trình bệnh, mức độ có thể thấp, nhưng có thể sẽ tăng lên trong vài giờ hoặc vài ngày tới.

Mức độ thấp cũng có thể được phát hiện khi không có nguồn lây nhiễm rõ ràng bằng chứng. Đây có thể là trường hợp nhiễm trùng rất khó xác định. Một bệnh nhân có thể không có triệu chứng nhiễm trùng khi xét nghiệm cho biết có một nhiễm trùng.

Procalcitonin và Sepsis: Có nghĩa là gì?

Về bản chất, một mức procalcitonin chỉ có thể dự đoán một loại nhiễm trùng có mặt. Kết quả procalcitonin là một hướng dẫn, không phải là chẩn đoán. Hãy suy nghĩ về kết quả thử nghiệm như một dấu hiệu cho thấy việc thử nghiệm thêm nên được thực hiện, không phải là chẩn đoán thực tế.

Bệnh nhân không được điều trị dựa trên mức procalcitonin đơn độc: toàn bộ phạm vi sức khỏe hiện tại của họ được đánh giá và điều trị dựa trên đánh giá lâm sàng của bác sĩ. Bệnh nhân luôn được đánh giá về các dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng bổ sung. Đối với một bệnh nhân được kiểm tra sớm trong quá trình nhiễm trùng huyết, và có một mức độ procalcitonin thấp, lặp lại các thử nghiệm tại một thời gian sau đó có thể phản ánh rằng nhiễm trùng huyết có mặt.

Giá trị thực sự của mức procalcitonin là nó có thể dẫn đến điều trị nhiễm trùng huyết sớm hơn, điều này có thể nhanh chóng trở nên đe dọa tính mạng. Đối với một người đang phát triển nhiễm trùng huyết, điều trị nhanh hơn vài giờ vì mức độ procalcitonin cao có thể tạo ra sự khác biệt giữa một bệnh đáp ứng nhanh với kháng sinh và một căn bệnh đủ nghiêm trọng để yêu cầu chăm sóc mức ICU .

Nhiễm trùng huyết đôi khi rất khó chẩn đoán bởi vì cá nhân trong câu hỏi có thể thậm chí không nhận ra rằng họ bị nhiễm trùng. Một cái gì đó nhỏ như bàn chân của vận động viên có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết. Đối với những bệnh nhân không biết nhiễm trùng, xét nghiệm procalcitonin đặc biệt hữu ích.

Nguồn:

Viện Y tế Quốc gia. Procalcitonin hữu ích cho việc bắt đầu điều trị kháng sinh ở bệnh nhân đơn vị chăm sóc đặc biệt. Web. Tháng 3 năm 2013.

Related Content

Fresh articles

Intresting articles

Giới Thiệu Về Procalcitonin (Pct)

Ths Lê Văn Tuấn – Khoa ICU

Chẩn đoán sớm và điều trị phù hợp nhiễm khuẩn hệ thống là một thách thức trong thực hành hàng ngày tại các khoa ICU. Ngày nay, nhiều chiến lược điều trị đã chứng minh cải thiện tỉ lệ sống còn cho bệnh nhân nhiễm khuẩn hệ thống, do đó điều quan trọng là phải chẩn đoán nhanh chóng và chính xác nhiễm khuẩn hệ thống.

Trong các dấu ấn sinh học mới nhất của nhiễm khuẩn hệ thống thì procalcitonin (PCT) có độ chính xác chẩn đoán cao nhất. Nồng độ PCT tăng nhanh (trong vòng 6-12 giờ) sau một đợt nhiễm khuẩn hệ thống có hậu quả toàn thân. Vì kết cục của bệnh nhân nhiễm khuẩn hệ thống có thể đựơc cải thiện rõ rệt nếu bệnh nhân được điều trị sớm và đầy đủ, đo nồng độ PCT để chẩn đoán sớm và hiệu quả được khuyến cáo đối với tất cả các bệnh nhân nghi ngờ có nhiễm khuẩn hệ thống và có hội chứng đáp ứng viêm hệ thống.

Procalcitonin là tiền hormone của hormone calcitonin, nhưng PCT và calcitonin là hai protein khác biệt hoàn toàn. Calcitonin được sản xuất duy nhất bởi tế bào C của tuyến giáp khi đáp ứng với kích thích hormone, trong khi đó PCT có thể được sản xuất bởi nhiều loại tế bào và nhiều cơ quan khác nhau khi đáp ứng với kích thích tiền viêm, đặc biệt với các sản phẩm do vi khuẩn bài tiết.

Ở người khỏe mạnh, nồng độ PCT huyết tương dưới ngưỡng 0,05mcg/l, nhưng nồng độ PCT có thể tăng lên đến 1000 mcg/l trên bệnh nhân có nhiễm khuẩn hệ thống, nhiễm khuẩn nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn.

Thông thường, nồng độ PCT vượt ngưỡng 0,5 mcg/l được coi là giá trị bất thường gợi ý hội chứng nhiễm khuẩn hệ thống. Giá trị PCT dao động trong khoảng từ 0,5 và 2 mcg/l đại diện cho vùng “xám”, xem như không chắc chắn nếu xét về chẩn đoán nhiễm khuẩn hệ thống. Trong những trường hợp này, người ta khuyến cáo làm lại xét nghiệm sau 6-24 giờ, cho đến khi có chẩn đoán xác định. Nồng độ PCT trên 2 mcg/l gợi ý nhiều đến quá trình nhiễm khuẩn có hậu quả toàn thân. Nồng độ trên 10 mcg/l hầu như chắc chắn thấy được trên những bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn.

Sự tăng sản xuất PCT có thể do các kích thích khác nhau gây nên cả trong ống nghiệm (in vitro) và trong cơ thể (in vivo). Nội độc tố của vi khuẩn và các cytokine tiền viêm là những chất kích thích rất mạnh sự sản xuất PCT. Vai trò sinh lý chính xác của PCT vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ, tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm gần đây gợi ý rằng PCT có thể đóng vai trò bệnh sinh trong nhiễm khuẩn hệ thống. Protein PCT có đặc tính của chất hóa ứng động bạch cầu và điều hòa sự tổng hợp NO bởi các tế bào nội mạc.

Quan sát thấy nồng độ PCT tăng một cách có ý nghĩa trong nhiễm khuẩn hệ thống, nhưng đặc biệt tăng cao trong những ngày đầu của nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn. Trên bệnh nhân “SIRS” không do nhiễm khuẩn, nồng độ PCT thường ở mức thấp hơn (<1 mcg/l). Tuy vậy, ở giai đoạn đầu sau đa chấn thương hoặc phẫu thuật lớn, trên bệnh nhân bỏng nặng hoặc trẻ sơ sinh, nồng độ PCT có thể tăng không phụ thuộc vào quá trình nhiễm trùng. Thường nhanh chóng trở về mức ban đầu và trong những trường hợp này thì lần tăng PCT thứ hai được diễn giải là sự xuất hiện một đợt nhiễm khuẩn hệ thống. Nhiễm vi rút, xâm thực vi khuẩn, nhiễm trùng khu trú, bệnh lý dị ứng, bệnh lý miễn dịch và phản ứng thải ghép thường không gây tăng đáp ứng đáng kể về PCT (giá trị <0,5mcg/l)

Chỉ Số Pct ( Procalcitonin) Trong Máu Nói Lên Điều Gì?

PCT là một thông số được sử dụng để chẩn đoán và theo dõi các bệnh viêm do nhiễm khuẩn như:

Chẩn đoán phân biệt viêm do nhiễm khuẩn và viêm không do nhiễm khuẩn

Theo dõi các bệnh nhân có nguy cơ nhiễm khuẩn (các bệnh nhân sau phẫu thuật, sau ghép tạng, quá trình ức chế miễn dịch, đa chấn thương), các bệnh nhân đang được chăm sóc đặc biệt, để phát hiện các nhiễm khuẩn ảnh hưởng hệ thống hoặc phát hiện các biến chứng của nhiễm khuẩn.

Đánh giá tiên lượng và diễn biến của các bệnh viêm nặng như viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn (sepsis), hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (systemic inflammatory response syndrome: SIRS) và hội chứng suy chức năng đa cơ quan.

Chỉ dẫn sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn hô hấp hoặc viêm phổi.

Giá trị nồng độ PCT được khuyến cáo sử dụng bao gồm:

Giá trị bình thường là chỉ số PCT < 0,05 ng/ml.

Giá trị PCT < 0,10ng/ml thì không chỉ định dùng kháng sinh.

Giá trị PCT < 0,25ng/ml: Không khuyến cáo dùng kháng sinh, nếu trị liệu giảm xuống mức này thì tiếp tục dùng cho hiệu quả.

Giá trị PCT 0,50 – 2,0 (ng/ml): Nhiễm khuẩn do đáp ứng viêm hệ thống tương đối, nguyên nhân có thể là chấn thương, phẫu thuật sau chấn thương, sốc tim…

Giá trị PCT 2,0 – 10 (ng/ml): Đáp ứng viêm hệ thống nghiêm trọng (SIRS), nguyên nhân bởi nhiễm trùng hệ thống và nhiễm khuẩn huyết, chưa có suy đa tạng.

2. Nguyên lý xét nghiệm Procalcitonin theo nguyên lý bắt cặp với tổng thời gian xét nghiệm trong 18 phút

Thời kỳ ủ đầu tiên: Kháng nguyên trong mẫu thử (30μL), kháng thể đơn dòng đặc hiệu kháng PCT đánh dấu biotin và kháng nguyên đơn dòng đặc hiệu kháng PCT đánh dấu phức hợp ruthenium phản ứng với nhau tạo thành phức hợp bắt cặp.

Thời kỳ ủ thứ hai: Sau khi thêm các vi hạt phủ streptavidin, phức hợp miễn dịch trên trở nên gắn kết với pha rắn thông qua sự tương tác giữa biotin và streptavidin.

Hỗn hợp phản ứng được chuyển tới buồng đo, ở đó các vi hạt đối từ được bắt giữ trên bề mặt của điện cực. Những thành phần không gắn kết sẽ bị thải ra ngoài buồng đo bởi dung dịch ProCell/ProCell M. Cho điện áp vào điện cực sẽ tạo nên sự phát quang hóa học được đo bằng bộ khuếch đại quang tử.

Các kết quả được xác định thông qua một đường chuẩn xét nghiệm trên máy được tạo nên bởi xét nghiệm 2-điểm chuẩn và thông tin đường chuẩn chính qua mã vạch trên hộp thuốc thử.

3. Làm xét nghiệm kiểm tra chỉ số PCT trong máu khi nào?

Xét nghiệm Procalcitonin thường được làm ở những bệnh nhân nặng có triệu chứng gợi ý tình trạng nhiễm khuẩn nặng hoặc nhiễm khuẩn hệ thống. Nó thường được làm vào những ngày đầu khi nhập viện.

Biến chứng của nhiễm khuẩn huyết gồm: Sốt, rét run, buồn nôn, thở nhanh, mạch nhanh, lơ mơ, tiểu ít.

Các triệu chứng nặng hơn: Tình trạng viêm toàn thân và hình thành nhiều cục máu động nhỏ trong các vi mạch. Một hoặc nhiều cơ quan bị ảnh hưởng (Suy đa tạng, MOF) và tụt huyết áp

Procalcitonin cũng được dùng để theo dõi điều trị kháng khuẩn ở những bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết. Nó cũng được làm khi có tổn thương mô do chấn thương, phẫu thuật hoặc viêm phổi virus nghi ngờ có bội nhiễm viêm khuẩn.

4. Các yếu tố ảnh hưởng và hạn chế đến xét nghiệm PCT trong máu

Xét nghiệm không bị ảnh hưởng bởi vàng da (billirubin < 428μmol/L hoặc < 25 mg/dL), tán huyết (Hb <0.559 mmol/L hoặc <0.900 g/dL), lipid huyết (Intralipid< 1500 mg/dL) và biotin (<123 nmol/L hoặc <30 ng/mL).

Tiêu chuẩn: Độ phục hồi trong khoảng ± 15% giá trị ban đầu.

Kết quả xét nghiệm không bị nhiễu bởi các yếu tố thấp khớp với nồng độ lên đến 1500 IU/mL.

Hiệu ứng mẫu phẩm có nồng độ cao không ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm với nồng độ PCT lên đến 1000 ng/mL.

Thử nghiệm in vitro được tiến hành trên 18 loại dược phẩm thường sử dụng và 10 loại dược phẩm đặc trị. Không có hiện tượng nhiễu tới xét nghiệm.

Trong một số hiếm trường hợp, nhiễu có thể xảy ra do nồng độ kháng thể kháng kháng thể đặc hiệu kháng chất phân tích, kháng streptavidin hay ruthenium quá cao của mẫu phẩm phân tích. Xét nghiệm đã được thiết kế phù hợp để giảm thiểu các hiệu ứng này.

5. Chỉ số PCT có thể tăng trong vài trường hợp nhất định không do nhiễm trùng

Sốc tim kéo dài hay nghiêm trọng.

Bất thường tưới máu cơ quang nghiêm trọng kéo dài.

Ung thư phổi tế bào nhỏ hay ung thư biểu mô tế bào C tủy của tuyến giáp.

Ngay sau khi chấn thương nặng, can thiệp phẫu thuật lớn, phỏng nặng.

Việc điều trị gây kích thích giải phóng các cytokine tiền viêm.

Trẻ sơ sinh (<48 giờ sau khi sinh).

Với mục tiêu chẩn đoán, kết quả xét nghiệm cần được đánh giá kèm theo tiền sử, thăm khám lâm sàng và các phát hiện khác.

PCT với những giá trị vượt trội như trên đã chứng tỏ là một công cụ đáng tin cậy để chẩn đoán nhiễm khuẩn đặc biệt là nhiễm khuẩn toàn thân và phân biệt được các mức độ, đồng thời sử dụng động học của PCT kết hợp với các dữ liệu lâm sàng là phương tiện theo dõi hiệu quả diễn biến bệnh lý nhiễm trùng và trị liệu kháng sinh tin cậy, qua đó làm giảm thời gian sử dụng kháng sinh, giảm hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc và quan trọng là giảm chi phí điều trị.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Procalcitonin (Pct) – Một Dấu Ấn Mới Để Chẩn Đoán Nhiễm Khuẩn

CN Nguyễn Thị Huyền Ngân – Khoa Hóa sinh

Procalcitonin (PCT) là một tiền nội tiết tố có 116 acid amin với trọng lượng phân tử khoảng 12,7 kD. PCT được biểu hiện ở tế bào nội tiết thần kinh(các tế bào C của tuyến giáp, mô phổi và tụy) và bị cắt ra bởi men thành các dạng chưa có hoạt tính đầy đủ như calcitonin, katacalcin và một đoạn có N tận cùng. Trong máu của người khỏe mạnh chỉ chứa một lượng nhỏ PCT. Khi bị nhiễm trùng, lượng PCT gia tăng.

Điều có thể xảy ra là nhiều mô sản sinh PCT trong cơ thể phản ứng lại với nhiễm trùng huyết như đã thấy ở các mô thử nghiệm ở động vật. PCT có trong máu bệnh nhân nhiễm trùng chỉ chứa 114 acid amin không có dipeptide có N tận cùng là Ala-Pro.

Nồng độ PCT rất thấp ở người khỏe mạnh bình thường ( < 0.046 ng/ml) và  thường thấy gia tăng ở các bệnh nhân nhiễm trùng huyết, đặc biệt là trường hợp nhiễm trùng huyết nặng và sốc nhiễm trùng. PCT được xem là một  dấu ấn tiên lượng nhằm củng cố tiên đoán nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân.

Trong viêm tụy cấp, PCT là một chỉ số đáng tin cậy cho mức độ nghiêm trọng và các biến chứng nguy hiểm.

Ở bệnh nhân bị nhiễm trùng đường hô hấp mắc phải trong cộng đồng hay viêm phổi do máy thở, xét nghiệm PCT được đề nghị sử dụng làm hướng dẫn để quyết định sự cần thiết của việc điều trị kháng sinh và theo dõi mức độ thành công của trị liệu.

* Nguyên lý xét nghiệm:

Nguyên lý bắt cặp. Tổng thời gian xét nghiệm: 18 phút.

Thời kỳ ủ đầu tiên: Kháng nguyên trong mấu thử (30μL), kháng thể đơn dòng đặc hiệu kháng PCT đánh dấu biotin, và kháng nguyên đơn dòng đặc hiệu kháng PCT đánh dấu phức hợp ruthenium phản ứng với nhau tạo thành phức hợp bắt cặp.

Thời kỳ ủ thứ hai: Sau khi thêm các vi hạt phủ streptavidin, phức hợp miễn dịch trên trở nên gắn kết với pha rắn thông qua sự tương tác giữa biotin và streptavidin.

Hỗn hợp phản ứng được chuyển tới buồng đo, ở đó các vi hạt đối từ được bắt giữ trên bề mặt của điện cực. Những thành phần không gắn kết sẽ bị thải ra ngoài buồng đo bởi dung dịch ProCell/ProCell M. Cho điện áp vào điện cực sẽ tạo nên sự phát quang hóa học được đo bằng bộ khuếch đại quang tử.

Các kết quả được xác định thông qua một đường chuẩn xét nghiệm trên máy được tạo nên bởi xét nghiệm 2-điểm chuẩn và thông tin đường chuẩn chính qua mã vạch trên hộp thuốc thử.

*  Yếu tố ảnh hưởng và hạn chế:

– Xét nghiệm không bị ảnh hưởng bởi vàng da (billirubin < 428μmol/L hoặc < 25 mg/dL), tán huyết (Hb <0.559 mmol/L hoặc <0.900 g/dL), lipid huyết (Intralipid< 1500 mg/dL) và biotin (<123 nmol/L hoặc <30 ng/mL).

– Tiêu chuẩn: Độ phục hồi trong khoảng ± 15% giá trị ban đầu.

– Kết quả xét nghiệm không bị nhiễu bởi các yếu tố thấp khớp với nồng độ lên đến 1500 IU/mL.

– Hiệu ứng mẫu phẩm có nồng độ cao không ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm với nồng độ PCT lên đến 1000 ng/mL.

– Thử nghiệm in vitro được tiến hành trên 18 loại dược phẩm thường sử dụng và 10 loại dược phẩm đặc trị. Không có hiện tượng nhiễu tới xét nghiệm.

– Trong một số hiếm trường hợp, nhiễu có thể xảy ra do nồng độ kháng thể kháng kháng thể đặc hiệu kháng chất phân tích, kháng streptavidin hay ruthenium quá cao của mẫu phẩm phân tích. Xét nghiệm đã được thiết kế phù hợp để giảm thiểu các hiệu ứng này.

– Nồng độ PCT có thể tăng trong vài trường hợp nhất định không do nhiễm trùng. Bao gồm các trường hợp sau đây, nhưng không giới hạn:

Sốc tim kéo dài hay nghiêm trọng.

Bất thường tưới máu cơ quang nghiêm trọng kéo dài.

Ung thư phổi tế bào nhỏ hay ung thư biểu mô tế bào C tủy của tuyến giáp.

Ngay sau khi chấn thương nặng, can thiệp phẫu thuật lớn, phỏng nặng.

Việc điều trị gây kích thích giải phóng các cytokine tiền viêm.

Trẻ sơ sinh (<48 giờ sau khi sinh).

Với mục tiêu chẩn đoán, kết quả xét nghiệm cần được đánh giá kèm theo tiền sử, thăm khám lâm sàng và các phát hiện khác.

* Giá trị bình thường:

0.046 ng/mL (hay <0.046μg/L)

* Giá trị có ý nghĩa lâm sàng:

Giá trị PCT < 10 ng/ml : Không chỉ định dùng kháng sinh

Giá trị PCT < 0.25 ng/ml : Không khuyến cáo dùng kháng sinh, nếu trị liệu giảm xuống mức này thì tiếp tục dùng cho hiệu quả

Giá trị PCT 0.5-2.0 ng/ml: Nhiễm khuẩn do đáp  ứng viêm hệ thống tương đối, nguyên nhân có thể là chấn thương, phẫu thuật sau chấn thương, sốc tim…

Giá trị PCT 2.0 – 10 ng/ml: Đáp ứng viêm hệ thống nghiêm trọng, nguyên nhân bởi nhiễm trùng hệ thống và nhiễm khuẩn huyết, chưa có suy đa tạng.

Tài liệu tham khảo

Tài liệu hãng Roche

https://www.researchgate.net/publication/7556157_Procalcitonin_in_bacterial_infections_-_Hype_hope_more_or_less

Xét Nghiệm Procalcitonin Đánh Giá Tình Trạng Nhiễm Khuẩn

     Procalcitonin (PCT) là tiền chất của calcitonin, có 116 acid amin với trọng lượng phân tử khoảng 12,7 kD. PCT được sản xuất ở tế bào nội tiết thần kinh (các tế bào C của tuyến giáp, mô phổi và tụy) và bị cắt ra bởi enzym thành các dạng chưa có hoạt tính đầy đủ như calcitonin, katacalcin và một đoạn có N tận cùng. Trong máu của người khỏe mạnh chỉ chứa một lượng nhỏ PCT. Mức độ PCT trong máu tăng lên nhanh chóng và đáng kể khi một người có nhiễm trùng huyết. PCT không cao đáng kể khi một người có nhiễm virus.

    Procalcitonin thường được chỉ định cùng với các xét nghiệm khác như CRP (C-reactive protein), cấy máu, công thức máu (Complete Blood Count) hoặc phân tích CSF (dịch não tủy) để giúp phát hiện hoặc loại trừ nhiễm trùng huyết, viêm màng não do vi khuẩn hoặc vi khuẩn viêm phổi ở những người bị bệnh nặng và ở trẻ em bị sốt không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

    PCT được xem là một dấu ấn tiên lượng nhằm củng cố tiên đoán nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân.

    Trong viêm tụy cấp, PCT là một chỉ số đáng tin cậy cho mức độ nghiêm trọng và các biến chứng nguy hiểm.

    Ở bệnh nhân bị nhiễm trùng đường hô hấp mắc phải trong cộng đồng hay viêm phổi do máy thở, xét nghiệm PCT được sử dụng để quyết định sự cần thiết của việc điều trị kháng sinh và theo dõi mức độ thành công của trị liệu.      Ngoài ra, xét nghiệm PCT có thể được chỉ định nhiều lần trong khoảng thời gian để theo dõi hiệu quả điều trị kháng sinh.

    * Yếu tố ảnh hưởng và hạn chế:

    – Xét nghiệm không bị ảnh hưởng bởi vàng da (billirubin < 428μmol/L hoặc < 25 mg/dL), tán huyết (Hb <0.559 mmol/L hoặc <0.900 g/dL), lipid huyết (Intralipid< 1500 mg/dL) và biotin (<123 nmol/L hoặc <30 ng/mL).

    – Kết quả xét nghiệm không bị nhiễu bởi các yếu tố thấp khớp với nồng độ lên đến 1500 IU/mL.

    – Hiệu ứng mẫu phẩm có nồng độ cao không ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm với nồng độ PCT lên đến 1000 ng/mL.

    – Trong một số hiếm trường hợp, nhiễu có thể xảy ra do nồng độ kháng thể kháng kháng thể đặc hiệu kháng chất phân tích, kháng streptavidin hay ruthenium quá cao của mẫu phẩm phân tích.

    – Nồng độ PCT có thể tăng trong vài trường hợp nhất định không do nhiễm trùng. Bao gồm các trường hợp sau đây, nhưng không giới hạn:

Sốc tim kéo dài hay nghiêm trọng.

Bất thường tưới máu cơ quan nghiêm trọng kéo dài.

Ung thư phổi tế bào nhỏ hay ung thư biểu mô tế bào C tủy của tuyến giáp.

Ngay sau khi chấn thương nặng, can thiệp phẫu thuật lớn, bỏng nặng.

Việc điều trị gây kích thích giải phóng các cytokine tiền viêm.

Trẻ sơ sinh (<48 giờ sau khi sinh).