Ý Nghĩa Protein Niệu / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Thanhlongicc.edu.vn

Protein Niệu Trong Bệnh Thận Tiết Niệu

Nhận định chung

Bình thường protein không có hoặc rất ít trong nước tiểu. Khi protein xuất hiện thường xuyên và số lượng nhiều trong nước tiểu thường có ý nghĩa bệnh lý và là một trong những chỉ điểm quan trọng của bệnh lý thận tiết niệu.

Xác định protein niệu (Proteinuria) rất có giá trị trong chẩn đoán các bệnh lý thận tiết niệu. Hiện nay, xét nghiệm protein niệu được xem như là một test sàng lọc bệnh lý thận, tiết niệu.

Về mặt số lượng, có thể phân loại

Protein niệu sinh lý: Khi protein dưới 30 mg/ 24 giờ.

Microprotein niệu (protein niệu vi thể): Khi protein 30 – 300 mg/ 24 giờ.

Protein niệu thực sự: Khi protein trên 300 mg/24 giờ.

Mã số (theo ICD 10): N06.

Protein niệu sinh lý

Mỗi ngày, có từ 10 kg đến 15 kg protein huyết tương đi qua tuần hoàn thận, nhưng chỉ có 100 đến 150 mg được bài tiết ra trong nước tiểu trong vòng 24 giờ.

Protein được tiết ra nước tiểu từ thành mao mạch cầu thận và hầu hết lượng protein này được tái hấp thu ở ống lượn gần.

Ở người bình thường, khoảng 60% lượng protein niệu có nguồn gốc từ huyết tương, 40% còn lại có nguồn gốc từ thận và từ đường tiết niệu.

Protein có nguồn gốc từ huyết tương, bao gồm:

+ Albumin.

+ Các Globuline có trọng lượng phân tử thấp.

+ Các Hormone có cấu trúc là các chuỗi peptid.

Protein có nguồn gốc từ thận và từ đường tiết niệu, bao gồm:

+ Protein Tamm – Horsfall: Được tổng hợp ở nhánh lên của quai Henlé, chức năng của nó đến nay vẫn chưa được biết rõ.

+ IgA.

+ Urokinase.

Các phương pháp xác định protein niệu

Phương pháp định tính

Đốt nước tiểu: Đặc điểm lý học của protein là đông vón ở nhiệt độ cao, lợi dụng đặc điểm này, có thể phát hiện được protein có trong nước tiểu bằng cách đốt nước tiểu. Đựng nước tiểu trong một ống nghiệm và đốt trên ngọn đèn cồn, protein trong nước tiểu sẽ đông vón khi nhiệt độ của nước tiểu trên 700C. Hiện tượng đông vón của protein trong nước tiểu sẽ làm vẩn đục nước tiểu và dễ dàng nhận ra bằng mắt thường. Tùy thuộc vào nồng độ protein niệu cao hay thấp mà mức độ vẫn đục nước tiểu thay đổi, có thể chỉ lởn vởn đục ít, có thể nước tiểu đông quánh lại khi lượng protein trong nước tiểu nhiều.

Làm lạnh bởi acide sulfosalicylique hay trichloracétique: Dựa vào tính chất lý học của protein là đông vón trong môi trường acid, khi nhỏ acid vào để tìm hiện tượng đông vón protein.

Phương pháp bán định lượng

Dùng que thử nước tiểu Là phương pháp được áp dụng phổ biến nhất hiện nay, nhất là trong vấn đề sàng lọc bệnh thận trong cộng đồng. Các que thử này được tẩm Tétra bromephénol citraté (pH3), màu bị biến đổi từ vàng sang xanh khi có protein trong nước tiểu.

Phản ứng này phát hiện protein với lượng ít nhất là 150 – 200 mg/l.

Kết quả được biểu thị dưới dạng kết quả: âm tính, Protein niệu vết, 1+ đến 4+ tuỳ thuộc vào mức độ thay đổi màu sắc của que thử khi so sánh với bảng màu chuẩn.

Nhược điểm của phương pháp này là không phát hiện được các Globulin miễn dịch chuỗi nhẹ.

Que thử nước tiểu ngày nay không chỉ được dùng để xác định protein niệu mà còn kết hợp với việc phát hiện các thông số khác.

Định lượng Protein niệu

Cách lấy nước tiểu 24 giờ: sáng ngủ dậy, lúc 6h sáng người bệnh đi tiểu hết sau đó tính từ lúc này đến 6 h sáng hôm sau khi nào đi tiểu đều phải đi vào trong bô đó, sáng hôm sau ngủ dậy đi tiểu bãi cuối cùng lúc 6h và đong xem nước tiểu cả ngày là bao nhiêu, lấy 5 ml nước tiểu để làm xét nghiệm.

Được tiến hành tại phòng xét nghiệm hóa sinh. Có nhiều phương pháp, có thể dùng ion đồng (Cu2+).

Cần phải tính ra lượng Protein niệu / 24 giờ.

Xác định được MicroProtein niệu (Protein niệu vi thể, từ 30 -300 mg/24giờ).

Phát hiện được cả Globulin chuỗi nhẹ.

Điện di Protein niệu

Thường áp dụng phương pháp dùng Cellulose Acetate.

Xác định được bản chất của protein niệu, rất có ích trong việc xác định nguyên nhân của protein niệu.

Dựa vào kết quả điện di, có thể chia Protein niệu thành các loại:

+ Protein niệu chọn lọc: Khi thành phần Albumin chiếm trên 80% tổng lượng protein niệu. Thường do bệnh cầu thận gây ra, hay gặp nhất là hội chứng thận hư có tổn thương tối thiểu trên sinh thiết thận.

+ Protein niệu không chọn lọc: Khi Albumin chiếm dưới 80% tổng lượng protein niệu, loại này thường bao gồm hầu hết các thành phần protein có trong huyết tương. Hầu như tất cả các bệnh lý thận, tiết niệu đều thuộc loại protein niệu không chọn lọc này.

+ Protein niệu gồm phần lớn là các protein bất thường: Gồm một đỉnh nhọn của Beta hoặc gamma globulin, do bài tiết bất thường một Globulin miễn dịch đơn dòng chuỗi nhẹ, thường là Protein Bence-Jones. Protein này có đặc tính lý học là động vón ở nhiệt độ khoảng 500C và tan ra ở nhiệt độ 1000C. Đặc tính này có được khi trong thành phần Protein niệu có trên 50% là Protein Bence-Jones.

+ Các Protein ống thận: Chủ yếu là các Globulin trọng lượng phân tử thấp, các loại này dễ phát hiện khi điện di trên thạch Polyacrylamide. Với phương pháp này thì các protein với trọng lượng phân tử khác nhau có trong nước tiểu sẽ tách biệt nhau dễ dàng.

Các tình huống lâm sàng của protein niệu

– Gắng sức.

– Sốt cao.

– Nhiễm trùng đường tiểu.

– Suy tim phải.

– PolyGlobulin.

– Protein niệu tư thế.

Trong đó, cần chú ý đến Protein niệu tư thế: Là protein niệu thường gặp ở người trẻ và biến mất sau tuổi dậy thì. Protein niệu tư thế không có ý nghĩa bệnh lý.

Để chẩn đoán Protein niệu tư thế, phải khẳng định protein này biến mất ở tư thế nằm, bằng cách lấy nước tiểu sau khi cho người bệnh nằm nghỉ 2 giờ.

Protein niệu thường xuyên

Protein có thường xuyên trong nước tiểu thường là biểu hiện của bệnh lý thận tiết niệu hoặc có bất thường về protein huyết tương. Có thể phân loại protein niệu theo 3 loại như sau:

Protein niệu do tăng lưu lượng:

Xuất hiện một lượng lớn protein có trọng lượng phân tử thấp, các protein này được lọc qua các cầu thận bình thường. Khi lượng lọc ra vượt quá khả năng tái hấp thu của ống thận thì protein xuất hiện trong nước tiểu.

Trường hợp này được quan sát thấy trong các bệnh lý tiểu ra protein BenceJones (đa u tuỷ xương), tiểu ra Hemoglobin (do tan huyết) và tiểu ra Myoglobin (do huỷ cơ vân).

Protein niệu ống thận:

Thường không quá 2 gam/24 giờ. Gồm có 3 loại:

+Protein có trọng lượng phân tử trung bình (Beta 2 Microglobulin, Amylase) được lọc qua cầu thận nhưng ống thận không tái hấp thu hết.

+ Protein niệu do ống thận bị tổn thương bài tiết ra (N-Acetylglucosamin, Lysozym).

+ Protein Tamm-Horsfall.

Protein niệu cầu thận:

Trên điện di chủ yếu là Albumin, thường lượng nhiều, khi có trên 3,5 g/24 giờ/1,73 m2 da thì chẩn đoán hội chứng thận hư.

Một số điều cần chú ý khi phân tích Protein niệu

Protein niệu cao nhiều không do hội chứng thận hư mà có thể do tăng Globulin chuỗi nhẹ.

Lượng Protein niệu thường giảm xuống khi chức năng thận giảm dưới 50 ml/phút.

Một bệnh lý cầu thận có thể phối hợp với 1 bệnh lý thận kẽ hoặc bệnh mạch máu thận.

MicroProtein niệu: Được định nghĩa khi lượng protein niệu từ 30 – 300 mg/24 giờ, đây là một dấu chỉ điểm rất tốt và tương đối sớm trên lâm sàng cho bệnh cầu thận đái tháo đường. MicroProtein niệu có thể biến mất sau khi điều trị các thuốc ức chế men chuyển.

Đạm Niệu (Protein Niệu): Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Thận là cơ quan quan trọng bậc nhất của cơ thể đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng như nội tiết, bài tiết, tái hấp thụ. Ở người bình thường, thận thực hiện nhiệm vụ lọc, đào thải các chất độc ra ngoài cơ thể qua màng lọc ở cầu thận nhưng không cho phép một lượng lớn protein đi qua màng lọc.

Bệnh lý Protein niệu là gì? Bệnh còn được gọi với tên bệnh đạm niệu là tình trạng protein xuất hiện trong nước tiểu. Việc protein xuất hiện trong nước tiểu là một dấu hiệu chỉ điểm quan trọng của tổn thương thận cảnh báo những vấn đề nguy hiểm của thận có thể xảy ra.

Nguyên nhân gây tăng Protein niệu nhưng không gây tổn thương thận gồm có:

Tăng protein niệu theo tư thế, tập thể dục quá mức, do tiếp xúc trong môi trường lạnh, căng thẳng, stress. Đây thường là protein niệu lành tính xuất hiện đơn độc không bao gồm tăng huyết áp, hồng cầu niệu. Các trường hợp này cần theo dõi chặt chẽ và khám lại ngay khi có bất thường.

Nguyên nhân gây tăng protein niệu dẫn đến các bệnh thận bao gồm:

Hội chứng thận hư, viêm cầu thận, các bệnh lý thận.

Bệnh lý tăng huyết áp, đái tháo đường, suy tim, viêm màng ngài tim.

Bệnh lý viêm khớp dạng thấp, lupus.

Các bệnh lý về máu như đa u tủy xương, các bệnh lý ung thư.

Tăng protein niệu ở người có thai.

Thông thường, người bệnh không có biểu hiện gì khi mắc bệnh protein niệu. Protein niệu được phát hiện trong quá trình xét nghiệm nước tiểu thường quy. Người bệnh cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa sau khi phát hiện bệnh để có phương pháp điều trị tốt nhất.

Bệnh lý protein niệu gặp ở các mọi đối tượng và mọi lứa tuổi. Người bệnh nên kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm và có biện pháp điều trị sớm đạt kết quả tốt.

Tập thể dục thường xuyên, ăn các đồ ăn ít chất béo, hạn chế sử dụng rượu bia, giảm lượng nước và muối trong chế độ ăn giúp kiểm soát bệnh protein niệu. Cần đi khám sức khỏe định kỳ và thường xuyên để phát hiện bệnh và có biện pháp điều trị tốt nhất.

Phương pháp định tính:

Đốt nước tiểu: Protein có đặc điểm đông vón ở nhiệt độ cao nên được sử dụng để phát hiện protein trong nước tiểu bằng cách đốt nước tiểu. Protein trong nước tiểu khi bị đốt sẽ làm vẩn đục nước tiểu và nhận ra bằng mắt thường.

Làm lạnh bằng acid Sulfosalicylipue: Do protein có tính chất đông vón trong môi trường acid, người ta thực hiện nhỏ acid vào nước tiểu để tìm hiện tượng vón protein.

Phương pháp bán định lượng:

Sử dụng que thử nước tiểu được gắn các chất phản ứng. Trường hợp xuất hiện protein niệu sẽ phản ứng với chất gắn trên que thử làm đổi màu que thử qua đó nhận biết được sự tồn tại của protein trong nước tiểu.

Phương pháp định lượng:

Các nhân viên y tế sẽ hướng dẫn người bệnh lấy nước tiểu 24h. Sau khi lấy xong nước tiểu, người bệnh sẽ mang đến cơ sở y tế để nhân viên y tế thực hiện định lượng Protein nước tiểu. Phương pháp này giúp định lượng chính xác lượng protein nước tiểu trong 24h qua đó giúp cho bác sĩ có định hướng chẩn đoán và điều trị cho người bệnh.

Điện di protein niệu: Việc điện di protein niệu giúp xác định các thành phần của protein trong nước tiểu. Việc xác định thành phần protein nước tiểu giúp xác định nguyên nhân gây bệnh, vị trí tổn thương và chức năng của thận giúp bác sĩ xác định nguyên nhân và có biện pháp điều trị phù hợp.

Từ những biện pháp chẩn đoán trên, việc xác định nguyên nhân giúp cho các bác sĩ định hướng và điều trị một cách tốt nhất.

Protein niệu ở mức độ nhẹ chưa cần điều trị nhưng cần khám và theo dõi định kỳ thường xuyên.

Protein niệu do các bệnh thận cần được điều trị tích cực nếu không có thể dẫn đến suy thận mạn.

Người bệnh bị protein niệu do các bệnh như, tăng huyết áp, đái tháo đường cần có biện pháp điều trị phù hợp để tránh gây ra các tổn thương thận dẫn đến mắc các bệnh về thận.

Xét Nghiệm Protein Toàn Phần Có Ý Nghĩa Như Thế Nào?

1. Tìm hiểu về protein toàn phần

Protein toàn phần trong máu gồm có 3 thành phần chính đó là albumin, globulin và fibrinogen. Trong đó tế bào gan là nơi duy nhất tổng hợp albumin và fibrinogen, còn globulin sẽ được sản xuất bởi các tế bào miễn dịch (tủy xương, lách, tế bào lympho,…).

Hình 1: Gan là nơi tổng hợp protein.

Trong cơ thể người, protein có vai trò vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sinh lý bình thường:

– Protein được cấu tạo từ hơn 20 loại acid amin, là thành phần tham gia cấu tạo nên các mô, tế bào, giúp cho cơ thể tăng trưởng và phát triển.

– Albumin máu có chức năng duy trì áp lực thẩm thấu keo, giúp cho nước không đi ra ngoài mạch máu, ổn định quá trình trao đổi muối nước.

– Tham gia vào việc duy trì cân bằng pH cho máu.

– Globulin tham gia trực tiếp vào quá trình đáp ứng miễn dịch của cơ thể, chống lại các tác nhân vi khuẩn bên ngoài. Fibrinogen tham gia thúc đẩy quá trình đông máu, bảo vệ cơ thể.

– Có vai trò liên kết, vận chuyển các acid béo, enzyme, hormone steroid,… đi khắp các cơ quan của cơ thể .

2. Xét nghiệm protein toàn phần trong máu và nước tiểu

Bình thường protein sẽ có một hàm lượng nhất định trong máu và không có trong nước tiểu. Như vậy khi nồng độ protein trong máu thay đổi hoặc xuất hiện protein trong nước tiểu được coi là những dấu hiệu bất thường cảnh báo vấn đề về sức khỏe.

Xét nghiệm protein trong máu

Hình 2: Xét nghiệm đo hàm lượng protein máu.

Như đã đề cập ở trên, protein trong máu có vai trò vô cùng quan trọng, cấu tạo nên tế bào và tham gia trực tiếp vào các quá trình sinh lý hoạt động của cơ thể. Xét nghiệm protein toàn phần trong máu có ý nghĩa trong việc đo hàm lượng albumin và globulin có trong huyết thanh.

Nồng độ protein trong máu giúp phản ánh các tình trạng bất thường về gan, thận, bệnh lý đường tiêu hóa, tình trạng dinh dưỡng,… của cơ thể.

Xét nghiệm protein trong nước tiểu

Trong nước tiểu của người bình thường sẽ không có hoặc có rất ít protein. Vì vậy nếu xét nghiệm kiểm tra thấy có xuất hiện một lượng protein trong nước tiểu chứng tỏ thận của bạn đang gặp vấn đề.

Thận hoạt động kém, suy giảm chức năng hoặc có vấn đề bất thường khác khiến cho protein bị bài xuất ra ngoài nhiều. Việc đo nồng độ protein niệu có ý nghĩa lớn trong việc chẩn đoán các bệnh lý thận tiết niệu.

3. Xét nghiệm protein tăng hoặc giảm có ý nghĩa như thế nào?

3.1. Protein máu

Giá trị bình thường của protein trong máu trong khoảng từ 60 – 80 g/L, trong đó albumin từ 38 – 54 g/L và globulin từ 26 – 42 g/L.

Protein máu tăng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự tăng protein trong máu như:

– Bệnh viêm tụy cấp, viêm tủy xương, loét dạ dày tá tràng.

– Các tình trạng nhiễm trùng cấp, mất nước, rối loạn protein máu.

– Các bệnh lý về gan như viêm gan do virus, xơ gan, ung thư gan giai đoạn tiến triển, vàng da tắc mật,…

– Đái tháo đường.

– Hội chứng thận hư, viêm cầu thận mạn.

– Viêm khớp dạng thấp, đa u tủy xương, U lympho Hodgkin, lupus ban đỏ hệ thống,…

Hình 3: Chỉ số protein thay đổi cảnh báo bất thường về gan

Protein máu giảm

– Các tình trạng tế bào gan suy giảm chức năng dẫn đến giảm tổng hợp albumin.

– Globulin giảm trong các trường hợp hội chứng thận hư, bỏng, bệnh lý đường ruột, do hòa loãng máu, giai đoạn sau sinh, người bị suy giảm gamma globulin bẩm sinh,…

– Fibrinogen giảm trong các bệnh lý về gan, bệnh huyết khối, sử dụng thuốc tiêu fibrinogen, suy giảm fibrinogen bẩm sinh,…

3.2. Protein nước tiểu

Bình thường trong nước tiểu sẽ không có protein hoặc có một lượng rất nhỏ dưới dưới 150 mg/24 giờ. Nếu protein xuất hiện trong nước tiểu với một hàm lượng lớn thường gặp trong:

– Nhiễm trùng đường tiết niệu, các bệnh lý suy giảm chức năng thận.

– Sốt cao.

– Suy tim phải, bệnh lý mạch vành.

– Do lao động quá sức.

– Đặc biệt đối với phụ nữ có thai, nếu xuất hiện protein niệu trong 3 tháng kèm theo tăng huyết áp và phù sẽ là dấu hiệu cảnh báo nhiễm độc thai nghén.

– Bên cạnh đó nếu thai phụ xét nghiệm thấy protein trên 300 mg/ngày có khả năng nghi ngờ bị tiền sản giật.

4. Xét nghiệm protein được thực hiện khi nào?

Xét nghiệm protein toàn phần là một xét nghiệm cơ bản và được thực hiện khá phổ biến trong khám sức khỏe tổng quát. Bạn có thể đề nghị tiến hành làm xét nghiệm bất cứ lúc nào nếu có nhu cầu muốn kiểm tra nồng độ protein để biết được tình trạng sức khỏe của bản thân.

Ngoài ra những người mắc các bệnh lý về gan, thận, đường tiêu hóa là đối tượng được bác sĩ khuyến cáo nên thực hiện xét nghiệm protein định kỳ. Qua đó đánh giá sự tiến triển của bệnh và theo dõi hiệu quả điều trị.

Một số biểu hiện trên lâm sàng mà bạn cần chú ý để đo nồng độ protein đó là:

– Chán ăn, ăn không ngon, sút cân không rõ nguyên nhân.

– Cơ thể luôn trong tình trạng mệt mỏi, thiếu năng lượng.

– Có dấu hiệu bị phù, sưng.

– Đi tiểu khó.

– Nôn và buồn nôn.

– Người bị suy dinh dưỡng.

Chỉ số protein máu và nước tiểu là xét nghiệm rất có giá trị trong việc giúp bác sĩ định hướng và gợi ý các bệnh gan, thận, tiêu hóa,… Đây là một xét nghiệm đơn giản, dễ thực hiện và chi phí thấp, do đó bạn đọc nên thực hiện xét nghiệm định kỳ để theo dõi và kiểm soát tình trạng sức khỏe của mình.

Một địa chỉ y tế chất lượng gợi ý đến bạn đọc đó chính là bệnh viện Đa khoa MEDLATEC. Đây là một trong những bệnh viện tư nhân hàng đầu luôn nhận được sự đánh giá cao của khách hàng và các chuyên gia y tế.

Hình 4: Thực hiện xét nghiệm tại MEDLATEC

Trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm của các y bác sĩ là một điều nổi bật không thể không nhắc đến. Bên cạnh đó bệnh viện còn chú trọng đầu tư đồng bộ các trang thiết bị máy móc hiện đại, nhập khẩu từ các nền y tế hàng đầu trên thế giới như Thụy Sỹ, Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản.

Khách hàng khi đến khám chữa bệnh tại MEDLATEC sẽ được trải nghiệm công nghệ y tế hiện đại, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng, hiệu quả và tiện lợi. Chi phí vô cùng hợp lý, các gói khám đa dạng được thiết kế phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau.

Bệnh viện còn triển khai nhiều gói ưu đãi giảm giá và hỗ trợ thanh toán thẻ bảo hiểm lên tới 100% thông tuyến cho khách hàng. Qua đó nỗ lực mang lại chất lượng sức khỏe tốt nhất cho cộng đồng.

Nhanh tay liên hệ đến tổng đài 1900 565656 để được hưởng các ưu đãi sớm nhất thôi nào.

Protein Thực Vật Có Tốt Hơn Protein Động Vật?

Protein là một chất dinh dưỡng đa lượng thiết yếu của mỗi người, nhưng không phải tất cả các nguồn thực phẩm cung cấp protein đều như nhau. Vì cơ thể bạn không tích trữ protein, nên bạn phải nạp đủ chất dinh dưỡng này từ chế độ ăn uống mỗi ngày. Bạn có thể nhận được protein từ cả thực vật và động vật. Một vấn đề mà nhiều người quan tâm đó là protein có trong thực vật có tốt hơn protein động vật không?

1. Protein là gì?

Protein được tìm thấy trong khắp cơ thể chúng ta, từ trong cơ, xương, da, tóc và hầu như mọi bộ phận hoặc mô khác của cơ thể đều có sự xuất hiện của protein. Nó tạo nên các enzym tạo ra nhiều phản ứng hóa học và hemoglobin vận chuyển oxy trong máu của bạn. Ít nhất 10.000 loại protein khác nhau tạo nên cơ thể bạn.

Protein được tạo ra từ hơn 20 khối xây dựng cơ bản được gọi là axit amin. Cơ thể chúng ta không thể tự tạo ra các axit amin, mà chúng ta nhận được chúng theo hai cách khác nhau: Từ thực phẩm hoặc bằng cách điều chỉnh các loại khác.

Chín axit amin bao gồm: Histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine được gọi là các axit amin thiết yếu, được cung cấp qua thực phẩm.

2. Bạn cần bao nhiêu protein?

Học viện Y khoa Quốc gia Mỹ khuyến cáo rằng người lớn nên bổ sung tối thiểu 0,8 gam protein cho mỗi kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày, hoặc chỉ hơn 7 gam cho mỗi 20 pound trọng lượng cơ thể.

Đối với một người nặng 140 pound (63,5kg) cần khoảng 50 gam protein mỗi ngày.

Đối với một người nặng 200 pound (90kg), cần khoảng 70 gam protein mỗi ngày.

Học viện Y khoa Quốc gia Mỹ cũng đặt ra một phạm vi rộng cho lượng protein có thể chấp nhận được đó là từ 10% đến 35% tổng lượng calo mỗi ngày của một người. Ngoài ra, có tương đối ít thông tin chắc chắn về lượng protein lý tưởng trong chế độ ăn uống hoặc mục tiêu lành mạnh nhất cho lượng calo do protein đóng góp.

Hiện nay có hàng triệu người trên toàn thế giới, đặc biệt là trẻ nhỏ, không nhận đủ protein. Ảnh hưởng của việc thiếu protein và suy dinh dưỡng có mức độ nghiêm trọng từ suy giảm tăng trưởng và mất khối lượng cơ bắp đến giảm khả năng miễn dịch, suy yếu tim và hệ hô hấp, thậm chí là tử vong.

3. Cấu hình axit amin thay đổi giữa protein có trong thực vật và protein động vật

Sau khi vào cơ thể, protein sẽ được phân hủy thành các axit amin. Protein được sử dụng cho hầu hết mọi quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Tuy nhiên, các loại protein khác nhau có thể khác nhau rất nhiều về loại axit amin có trong đó.

Trong khi protein động vật có xu hướng chứa tất cả các axit amin mà chúng ta cần, thì một số protein thực vật có ít axit amin hơn. Ví dụ, một số nguồn protein thực vật quan trọng thường có ít methionine, tryptophan, lycine và isoleucine. Protein động vật là hoàn chỉnh về số loại axit amin, nhưng protein thực vật thì không.

Tổng cộng, có khoảng 20 loại axit amin mà cơ thể chúng ta sử dụng để tạo ra protein. Các axit amin được phân loại là thiết yếu hoặc không thiết yếu. Cơ thể của bạn có thể tạo ra các axit amin không thiết yếu. Tuy nhiên, cơ thể bạn không thể tạo ra các axit amin thiết yếu, do đó bạn cần được cung cấp các axit amin này thông qua chế độ ăn uống. Để có sức khỏe tốt nhất, cơ thể bạn cần tất cả các axit amin thiết yếu theo đúng tỷ lệ.

Các nguồn protein động vật như thịt, cá, gia cầm, trứng và sữa giống như protein được tìm thấy trong cơ thể bạn. Đây được coi là những nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh, bởi vì chúng chứa tất cả các axit amin thiết yếu mà cơ thể bạn cần.

Ngược lại, các nguồn protein thực vật, chẳng hạn như đậu, đậu lăng và các loại hạt được coi là không chứa đầy đủ axit amin, chúng thiếu một số axit amin thiết yếu mà chúng ta cần. Một số báo cáo cho rằng protein đậu nành là hoàn chỉnh. Tuy nhiên, hai axit amin thiết yếu chỉ được tìm thấy với một lượng nhỏ trong đậu nành, vì vậy nó không thể so sánh với protein động vật.

Thực phẩm có nguồn gốc từ động vật là nguồn protein chất lượng cao nhất. Các nguồn đạm thực vật thiếu một hoặc nhiều axit amin, điều này làm cho việc nhận được tất cả các axit amin mà cơ thể bạn cần trở nên khó khăn hơn.

4. Một số chất dinh dưỡng dồi dào hơn trong các nguồn protein động vật

Tất nhiên, protein hiếm khi được tìm thấy một mình trong các loại thực phẩm, nó thường đi kèm với nhiều loại chất dinh dưỡng khác. Các nguồn protein động vật có xu hướng có nhiều chất dinh dưỡng mà thường thiếu trong thực phẩm thực vật, bao gồm:

Vitamin B12: Chủ yếu được tìm thấy trong cá, thịt, gia cầm và các sản phẩm từ sữa. Nhiều người tránh thức ăn thức ăn có nguồn gốc từ động vật bị thiếu loại vitamin này.

Vitamin D: Vitamin D được tìm thấy trong cá, trứng và sữa. Một số loại thực vật có chứa nó, nhưng vitamin D có trong thực phẩm động vật sẽ được cơ thể bạn sử dụng tốt hơn .

DHA: Axit docosahexaenoic (DHA) là một chất béo omega-3 thiết yếu được tìm thấy trong cá béo. Nó rất quan trọng đối với sức khỏe của não và khó có được từ các nguồn thực phẩm thực vật.

Heme-iron: Chất dinh dưỡng này chủ yếu được tìm thấy trong thịt, đặc biệt là thịt đỏ. Heme-iron được hấp thụ vào cơ thể tốt hơn nhiều so với sắt không phải heme từ thực phẩm thực vật.

Kẽm: Chất dinh dưỡng này chủ yếu được tìm thấy trong các nguồn protein động vật như thịt bò, thịt lợn và thịt cừu. Kẽm trong thực phẩm có nguồn gốc từ động vật cũng dễ dàng hấp thụ và sử dụng hơn.

Nguồn protein động vật chứa nhiều chất dinh dưỡng khác như vitamin B12, vitamin D, axit béo omega-3 DHA, heme-sắt và kẽm. Tất nhiên, cũng có rất nhiều chất dinh dưỡng được tìm thấy trong thực vật và thực phẩm từ động vật. Do đó, khẩu phần ăn uống cân bằng cả hai loại đạm là cách tốt nhất để nhận được tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết.

5. Một số loại thịt là nguồn cung cấp protein nhưng lại có thể gây bệnh

6. Chế độ ăn giàu đạm thực vật mang đến nhiều lợi ích cho sức khỏe

Chế độ ăn giàu đạm thực vật, chẳng hạn như chế độ ăn chay mang đến nhiều lợi ích sức khỏe. Các nghiên cứu cho thấy người ăn chay có xu hướng giảm trọng lượng cơ thể, giảm cholesterol và giảm huyết áp. Họ cũng có nguy cơ bị đột quỵ, ung thư và tử vong do bệnh tim thấp hơn những người không ăn chay.

Các lợi ích sức khỏe mà chế độ ăn giàu đạm thực vật mang đến cho bạn bao gồm:

Giảm nguy cơ mắc bệnh tim: Một nghiên cứu cho thấy chế độ ăn giàu protein với khoảng một nửa từ thực vật làm giảm huyết áp, mức cholesterol và nguy cơ mắc bệnh tim hơn chế độ ăn tiêu chuẩn hoặc chế độ ăn nhiều carb lành mạnh.

Thử nghiệm EcoAtkins cho thấy chế độ ăn ít carb và nhiều protein thực vật giúp giảm cholesterol và huyết áp tốt hơn so với chế độ ăn nhiều carb, ít chất béo.

Giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2: Một nghiên cứu nhỏ về những người mắc bệnh tiểu đường type 2 cho thấy thay thế 2 phần thịt đỏ bằng các loại đậu trong 3 ngày mỗi tuần sẽ cải thiện lượng cholesterol và lượng đường trong máu.

Tuy nhiên, một nghiên cứu khác kéo dài 6 tuần đã so sánh chế độ ăn nhiều đạm thực vật với chế độ ăn nhiều đạm động vật, không thấy có sự khác biệt về lượng đường trong máu, cholesterol và huyết áp ở hai nhóm này.

Kiểm soát cân nặng: Chế độ ăn giàu protein thực vật cũng có thể giúp bạn kiểm soát cân nặng tốt hơn. Một nghiên cứu quan sát theo dõi 120.000 nam giới và phụ nữ trong hơn 20 năm cho thấy ăn nhiều loại hạt hơn có khả năng kiểm soát cân nặng tốt hơn.

Ngoài ra, ăn một phần đậu, đậu xanh, đậu lăng hoặc đậu Hà Lan mỗi ngày có thể làm tăng cảm giác no và có thể dẫn đến việc giảm cân tốt hơn.

Điều quan trọng cần nhớ là các nghiên cứu quan sát ở đây chỉ báo cáo các mối liên kết thống kê. Chúng ta chưa thể chứng minh rằng những lợi ích này là do loại bỏ thịt cũng như nguồn protein động vật khác.

Một điều cần lưu ý là những người ăn chay có xu hướng quan tâm đến sức khỏe hơn những người khác. Do đó, lợi ích sức khỏe của chế độ ăn chay có thể đạt được là do chế độ ăn uống và lối sống lành mạnh tổng thể, hơn là bất kỳ sự khác biệt nào giữa protein thực vật và protein động vật.

7. Protein động vật cũng có lợi cho sức khỏe

Một nghiên cứu thực hiện trên hơn 40.000 nam giới cho thấy những người thường xuyên ăn một hoặc nhiều khẩu phần cá mỗi tuần có nguy cơ mắc bệnh tim thấp hơn 15%.

Vì nguồn thực phẩm thực vật thường có protein chất lượng thấp hơn, nên người ăn chay và thuần chay nên ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau để đảm bảo nhận được tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể. Đối với những người ăn thịt, thì điều quan trọng là phải có được sự cân bằng phù hợp giữa thực phẩm có nguồn gốc từ động vật và thực vật.

8. Bạn nên lựa chọn đạm thực vật hay đạm động vật?

Protein là một phần quan trọng của bất kỳ chế độ ăn kiêng nào. Một người bình thường cần khoảng 7 gam protein mỗi ngày cho mỗi 20 pound trọng lượng cơ thể. Vì protein được tìm thấy trong rất nhiều loại thực phẩm nên nhiều người có thể dễ dàng đạt được mục tiêu này. Tuy nhiên, không phải tất cả các nguồn protein đều được tạo ra như nhau.

Bởi vì thực phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng khác ngoài protein, điều quan trọng là phải chú ý đến những gì khác đi kèm với nó. Đó là lý do tại sao các chuyên gia dinh dưỡng khuyến khích chọn thực phẩm giàu protein lành mạnh.

Dựa trên hướng dẫn chung này, đây là một số mẹo lựa chọn chế độ ăn uống của bạn với các lựa chọn protein tốt nhất:

Nhận protein từ thực vật khi có thể: Ăn các loại đậu, quả hạch, hạt, ngũ cốc nguyên hạt và các nguồn protein thực vật khác là một lựa chọn tốt cho sức khỏe của bạn. Nếu hầu hết protein của bạn đến từ thực vật, hãy đảm bảo rằng bạn kết hợp các nguồn khác nhau để không bị thiếu các thành phần “thiết yếu” của protein. Tin tốt là nguồn thực vật cung cấp rất nhiều lựa chọn để bạn lựa chọn và kết hợp. Các nguồn đạm thực vật bao gồm:

Các loại đậu: Đậu lăng, đậu Hà Lan (xanh, tuyết, snap, chia, v.v.), đậu edamame / đậu nành (và các sản phẩm làm từ đậu nành: đậu phụ, tempeh, v.v.), đậu phộng.

Các loại hạt: Hạnh nhân, quả hồ trăn, hạt điều, quả óc chó, quả phỉ, hồ đào, hạt cây gai dầu, hạt bí ngô, hạt hướng dương, hạt lanh, hạt vừng, hạt chia.

Ngũ cốc nguyên hạt: Kamut, teff, lúa mì, quinoa, gạo, yến mạch, kiều mạch.

Các nguồn protein thực vật khác: Trong khi nhiều loại rau và trái cây có chứa một số hàm lượng protein khác nhau, nó thường ở một lượng nhỏ hơn so với các loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật khác. Một số ví dụ có lượng protein cao hơn bao gồm ngô, bông cải xanh, măng tây, mầm cải Brussel và atiso.

Nâng cấp nguồn protein động vật của bạn: Xem xét gói protein là đặc biệt quan trọng khi nói đến thực phẩm có nguồn gốc động vật:

Nói chung, thịt gia cầm (gà, gà tây, vịt) và nhiều loại hải sản (cá, giáp xác, nhuyễn thể) là lựa chọn tốt nhất của bạn. Trứng cũng có thể là một lựa chọn tốt.

Nếu bạn thích các món ăn từ sữa, tốt nhất là nên làm như vậy với lượng vừa phải. Chỉ nên sử dụng từ 1-2 phần ăn mỗi ngày; và kết hợp sữa chua có lẽ là lựa chọn tốt hơn so với tất cả khẩu phần từ sữa hoặc pho mát.

Thịt đỏ: Bao gồm thịt bò, thịt lợn, thịt cừu, thịt bê, và thịt dê chưa qua chế biến nên được tiêu thụ hạn chế hơn. Nếu bạn thích thịt đỏ, hãy cân nhắc ăn với lượng nhỏ hoặc chỉ vào những dịp đặc biệt.

Nên tránh các loại thịt đã qua chế biến, chẳng hạn như thịt xông khói, xúc xích và thịt nguội. Mặc dù những sản phẩm này thường được làm từ thịt đỏ, thịt chế biến cũng bao gồm các món như thịt xông khói gà tây, xúc xích gà, thịt gà và giăm bông thái lát nguội.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.