Địa Đàng Còn In Dấu Chân

Âm nhạc của Trịnh Công Sơn xuất phát từ nỗi buồn có tính cách chung thẩm như vậy, cùng với cái nhìn âm u của anh ném ra khắp thế giới, bất cứ chỗ nào đôi mắt của anh từng hướng đến, kể cả cõi tình. Mà người ta có lí khi nghĩ về cuộc đời của Sơn như một hiện hữu không thể có niềm vui.

Minh họa: Thái Ngọc Thảo Nguyên

Sau khi triển khai tất cả ý nghĩa của một hiện hữu vào nghệ thuật, Trịnh Công Sơn chỉ nhìn thấy còn lại trong tay mình một chút vôi kết tủa của nỗi cô đơn. Có thể nói rằng nỗi cô đơn là không khí tản mạn khắp trong nhạc Trịnh Công Sơn, và là “tội tổ tông” con người phải gánh chịu từ thuở sơ sinh, và không thể nói gì khác. Có thể nói ngay rằng nỗi cô đơn của phận người là một đóng góp quí báu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho cảm hứng âm nhạc Việt Nam một thời. Trong khi mãi dồn sức cho cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, nhiều người đã quen với những lời hô hùng tráng mà quên đi rằng con người là một gã lữ hành đi trong sa mạc. Nhưng một nền nghệ thuật đánh rơi mất nỗi cô đơn của phận người chưa phải là một nền nghệ thuật hoàn hảo.

Bóng dáng nhân loại gần gũi và thân thiết nhất đối với con người trong tuổi sơ sinh chính là hình bóng của người mẹ. Trong hầu khắp các ca khúc của anh, Trịnh Công Sơn thường dùng từ Mẹ khi nói về Tổ quốc hoặc quê hương. Tổ quốc của Sơn là một đất nước đổ vỡ vì chiến tranh, là một quê hương mịt mù trong khói lửa (Gia tài của mẹ), là những bà mẹ quê bỏ hoang ruộng vườn, ngẩn ngơ nhìn trái quả trên tay, nhớ về “một giàn đầy hoa” (Người mẹ Ô Lý). Tình cảm đau thương về Tổ quốc là một cảm hứng lớn trong nhạc Trịnh Công Sơn, đã làm cho anh mất ngủ, héo hon suốt tuổi thanh xuân, và từ đó, chín muồi thành thái độ phản chiến trong nhạc của Trịnh Công Sơn. Nội dung phản chiến tuy nhất thời đã làm một số người không bằng lòng, nhưng đó vẫn là tư duy chủ yếu của Trịnh Công Sơn trong ba tập: Ca khúc da vàng, Phụ khúc da vàng, Kinh Việt Nam, và là một nét nhân bản xứng đáng với nhân cách của một người công dân đối diện với một cuộc chiến quá dữ dằn và kéo dài. Chính Nguyễn Trãi, danh nhân văn hóa thế giới (do Liên hiệp quốc bầu chọn) đã từng nói “hòa bình là gốc của nhạc” dù ông đã đi qua cuộc kháng chiến chống Minh với tất cả hăm hở của một người chiến sĩ. Và trên con đường số Chín đầy máu lửa của một thời, đã từng có những người lính Mỹ đứng dàn hàng ngang, không chịu đi hành binh để phản đối chiến tranh. Ở đây, chúng ta thấy hậu quả quyết liệt và lâu dài của hành động phản chiến đó, và bây giờ bất cứ nơi đâu trên thế giới có tiếng súng của kẻ gây chiến, người ta lại thấy cần có hành động phản chiến như những người lính Mỹ nói trên. Vậy phản chiến không hề là một thái độ hèn nhát của những kẻ không dám xung trận, mà là hành vi dũng cảm của những người không muốn dùng máu lửa nhằm dập tắt một thảm kịch máu lửa đang diễn ra khắp nơi. Đây là một ít hồi quang xa xôi của tuổi sơ sinh mà chúng ta có thể tìm thấy trong sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn.

Tôi muốn dừng lại ở đây trong khoảnh khắc để giải bày lòng biết ơn của cuộc đời đối với vai trò đặc biệt quan trọng của Người Mẹ.

Tôi sung sướng được tiếp xúc gần gũi với thân mẫu Trịnh Công Sơn trong nhiều năm kết bạn với anh, và được hưởng sự ngọt ngào từ trái tim người mẹ của bà. Bà người nhỏ nhắn, dịu dàng. Tuy phải xoay xở lo cho cả gia đình, bà vẫn chăm lo cho tám người con ăn học đàng hoàng, và lúc nào bà cũng giữ được phong thái ung dung. Thỉnh thoảng, bà vẫn phì phèo một điếu thuốc Kent trên môi, và tiếp chuyện một cách thành thạo những người bạn cùng lứa tuổi của con bà lúc Sơn đi vắng. Dù con trai (Trịnh Công Sơn) đã lớn gần 50 tuổi, bà vẫn dành cho Sơn một tình yêu thương đằm thắm và sự chăm sóc tỉ mỉ như đối với một đứa trẻ; và đáp lại về phía mình, Trịnh Công Sơn cũng dành cho mẹ một niềm yêu mến và kính trọng. “Khi một người mất mẹ ở tuổi 50 – Sơn viết – điều ấy có nghĩa là không còn gì có thể dàn xếp được. Cái sa mạc để lại trong lòng bạn cứ thế mỗi ngày lan rộng ra và cõi lòng bạn thì tan nát như một cánh đồng xanh tươi vừa trải qua một cơn bão lớn” (Trịnh Công Sơn, thủ bút để lại). Tôi cho rằng nhiều nét trong tính cách của Trịnh Công Sơn là thừa hưởng từ bà, thí dụ như sự tế nhị, tính dịu dàng và lòng bao dung. Và với một người chuyên viết tình khúc như Trịnh Công Sơn, ta có thể nói rằng một người tình mang đến cho ta thật nhiều ngọt ngào pha lẫn chút cay đắng, còn tình yêu của người mẹ thì chỉ có sự cưu mang, và trái tim nhân từ mà thôi. Một người tình luôn tự đặt mình trong quan hệ biện chứng giữa cho và nhận, trong khi tình yêu của mẹ chỉ diễn ra trong một chiều của lòng từ tâm mà thôi. Chúng con xin triệu lần biết ơn mẹ, ôi người mẹ tuyệt vời, Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát! Phải có một người mẹ từ mẫu như thế, và phải có một đàn em trìu mến như thế mới có một tài năng kiệt xuất như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Không lạ gì bóng dáng của người mẹ thường hiện ra trong bài hát của Trịnh Công Sơn, hiện ra thấp thoáng trong hầu khắp mọi bài hát hoặc hiện ra thành một tượng đài toàn vẹn, như Người mẹ Ô Lý, Ngủ đi con, Ca dao mẹ, Huyền thoại mẹ…

“Huyền thoại mẹ” – SH số 12/4-1985

Địa Đàng Còn In Dấu Chân Bước Quên

Trời buông gió và mây về ngang bên lưng đèoloài sâu ngủ quên trong tóc chiều

Mùa xanh lá

Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền Bàng hoàng lạc gió mây miền Trùng trùng ngoài khơi nước lên sóng mềm Ngựa buông vó người đi chùng chân đã bao lần Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng Vùng u tồi loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng Một đời bỏ ngõ đêm hồng Ngoài trời còn dâng nước lên mắt em Tiếng ca bắt nguồn từ đất khô từ mưa gió từ vào trong đá xưa Ðến bây giờ mắt đã mù Tóc xanh đen vầng trán thơ Dòng sông đó loài rong yên ngủ sâu Mới hôm nào bão trên đầu Lời ca đau trên cao Ngàn mây xám chiều nay về đây treo lững lờ Và tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vừa Rồi từ đó loài sâu nửa đêm quên đi ưu phiền để người về hát đêm hồng địa đàng còn in dấu chân bước quên.

Về giai điệu của ca khúc tôi thấy nó có những lúc vút cao như gió, đưa ta lên đỉnh núi, nơi mà con người cho đó có cổng trời. Có những khi thì thầm như tiếng sóng, tiếng côn trùng trong đất sâu. Có những lúc lướt đi nhẹ nhàng như gió xuân, như bước chân phiêu du. Bao trùm bài hát đó là một cảm xúc buồn suy tư, suy tư về sự tồn tại, sự đau khổ của bước chân địa đàng. Qua các từ “than phiền” “ngại ngùng” “chùng chân” “nước lên mắt em” “ưu phiền” “lời ca đau”… ta cảm nhận được điều này.

Hình ảnh trong bài hát rất giản dị, gần gũi quen thuộc; Đó là gió, mây, sóng, sâu, lá, rong… Với cách sử dụng của Trịnh, cộng với chất men thần kỳ của giai điệu ta bỗng thấy nó đẹp một cách hoang sơ, huyền diệu và truyền tải những ý nghĩa rất nhân văn.

Nghe ca khúc ta có thể tưởng tượng đôi chút về hoàn cảnh sáng tác như sau: Kẻ du ca tên Trịnh một chiều lỡ bước, dừng chân bên lưng đèo, xa xa là biển cả. Không gian bao la, con người nhỏ bé lại càng bé nhỏ hơn. Lữ khách không khỏi chạnh lòng, cô đơn, ngậm ngùi về thế thái nhân tình, về kiếp người ngắn ngủi, mong manh. Chẳng thế mà Bà Huyện Thanh Quan đã có bài thơ “Qua đèo Ngang” và bài “Chiều hôm nhớ nhà” cho hậu thế buồn khi hoàng hôn xa xứ (“Dừng chân đứng lại trời non nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta… “Kẻ chốn chương đài người lữ thứ/ lấy ai mà kể nỗi hàn ôn”…). Thôi Hiệu (nhà thơ cổ đại TQ) cũng nói về hoàn cảnh trên: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Có lẽ một chiều nào đó trên con đường vạn dặm đem tiếng hát thức tỉnh trái tim con người, TCS đã ở vào hoàn cảnh tương tự như trên.

“Trời buông gió và mây về ngang bên lưng đèoMùa xanh lá loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”

Cách bắt đầu ca khúc thật thú vị! “Trời buông gió…”. Giống như ánh đèn sân khấu bật sáng. Gió buông… và các sự vật bắt đầu “vai” của mình: “mây về…”, “sâu ngủ…”, “nước lên…”, Ngựa buông vó…” “người đi…”…Ca khúc bắt đầu. Chữ “gió” trong bài được ngân cao, sâu và dài, khiến ta cảm nhận được luồng gió đang phơi phới thổi mạnh giữa mênh mông đất trời, mơn man muôn loài từ vô tri đến hữu tri. Ta thấy gió như từ trong lòng mình tràn lên, ngân nga qua thanh quản. Gió thổi “Mây về ngang lưng đèo” hay cũng là Trịnh vì “gió” của nhạc, của ca mà chiều nay cũng phiêu dạt đến đây để ngắm “Mùa xanh lá…”?.”Tóc chiều”là một cách gọi sáng tạo và đẹp. Phải chăng gió chiều, xuôi cành lá của cây, của rừng tung bay giống như suối tóc của thiếu nữ trong chiều cả gió. (Chả thế mà Xuân Diệu đã nói “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/ Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng…”). Danh từ “tóc chiều” ta tưởng là một nhưng đó là sự kết hợp đầy tinh tế giữa cành lá và gió, của hai sự vật hữu hình và vô hình. Chỉ hai câu thôi mà Trịnh đã đưa ta về một không gian khá đẹp: Hoàng hôn lưng đèo lộng gió, ngàn cây xanh lá giỡn nô, loài sâu yên bình giấc ngủ.

Chiều buông nhanh, bóng đêm trùm xuống, con người rơi vào cái đặc quánh của màn đêm cô quạnh, tưởng lòng người chùng xuống, tắt lặng vào quên lãng như loài sâu ngủ quên. Nhưng một tiếng hát vút lên phá toang màn đêm và tất cả như thức tỉnh. Thức tỉnh trong ý thức về nỗi buồn.

“Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền Bàng hoàng lạc gió mây miền Trùng trùng ngoài khơi nước lên sóng mềm”

“Cuộc đời đó” là xã hội mà TCS đang sống hay chính là cuộc đời ông. Buồn gì đây? chán gì đây, mà tiếng ca than phiền, ngại ngùng? Từ “như”cho ta biết đây là cảm nhận chủ quan của TCS về lời ca. Ông nghe và cảm thấy như thế. Quan tâm một chút đến năm sáng tác của ca khúc này ta sẽ hiểu được những ẩn ức trong ca từ. Bài hát viết năm 1964. Lúc này Mĩ đang leo thang chiến tranh ở miền Nam, chuẩn bị mở rộng đau thương chết chóc ra toàn Việt Nam. Chính quyền Sài Gòn vào đêm khuya (khoảng 9, 10 giờ) thường có chương trình phát thanh Dạ Lan. Qua làn sóng radio, binh lính ngụy và quần chúng thường được nghe những ca khúc “nhạc vàng” (Những bài hát có nhạc điệu và ca từ buồn, ủy mị, lâm ly. Có thể vào một đêm nào đó Trịnh cũng đã buồn khi nghe những ca khúc trên và nó đã tạo thêm cảm hứng cho ông viết bài hát này chăng? Điều này ta có thể chắc chắn hơn khi biết nhan đề chính thức ban đầu của nó chính là “Tiếng hát Dạ Lan”. Quê hương đau, nắng hạ cũng buồn, nước sông ngăn đôi sơn hà, còn gì vui? Lúc này TCS đang sống tại miền Nam, ông từng bị chính quyền Sài Gòn bắt bớ, cấm đoán nhiều điều bởi các ca khúc và thái độ phản chiến của mình. Chính vì thế khi nghe những lời ca buồn, ủy mị, ông cũng như bao người Việt thời đó sao mà không cảm thấy như than, như phiền, như ngại ngùng cho kiếp mình, đồng bào mình, dân tộc mình. Có lẽ đây chỉ là một yếu tố để ta rõ hơn đôi chút về ca từ trong bài. Nhưng “Dấu chân địa đàng” của TCS đã vượt qua yếu tố thời sự, thời gian đem đến sự say mê cho nhiều thế hệ. Điều gì đã làm nên điều đó? Theo tôi khi nghe Trịnh ta tìm thấy ta thấp thoáng sau những ca từ có vẻ huyền bí, khó hiểu của ông.

Hai câu tiếp theo là một tâm trạng buồn rất Trịnh:

Trùng trùng ngoài khơi nước lên sóng mềm”

Bàng hoàng là một tâm trạng ngỡ ngàng, sững sờ, choáng váng không thể làm chủ được tâm hồn. Nhìn lại mình Trịnh bất chợt ý thức về kiếp du ca. Một lần nữa ta thấy hình tượng mây xuất hiện, nếu ở trên mây về neo ngang lưng đèo thì ở đây mây “bàng hoàng lạc gió”. Trịnh đã ngầm ẩn dụ mình với mây, nếu “gió” của ca, của nhạc đưa Trịnh phiêu du khắp cõi đời, thì “gió”của đời cũng xô đẩy Trịnh phiêu bạt không ngờ. “Mây miền” là một danh từ mới của ông. Ta thường quen với các loại mây giông, trắng, đen, xám…chưa bao giờ nghe mây miền. Vậy mây miền là loại mây gì? Không thể định nghĩa theo lý tính được ta chỉ có thể hiểu được bằng cảm tính. “Mây miền” gợi cho ta nghĩ đó là một đám mây lang thang nay vùng này, mai miền nọ, ngao du khắp đất trời, sông núi. Trịnh ví đời nghệ sĩ của mình như một đám mây cũng khá hợp lý. Mây có lúc lang thang lững lờ, có lúc nhẹ nhàng phơi phới, lại có khi bàng hoàng lạc gió…Câu trên nói lên cái cảm giác bất chợt ý thức về kiếp sống giang hồ của ông còn câu dưới thể hiện nỗi lòng của ông: “Trùng trùng… sóng mềm”. Sóng ngoài khơi kia đang lên hay muôn đợt sóng lòng – bao nhiêu buồn vui, suy tư trăn trở đang dâng lên trong lòng tác giả. “Sóng mềm” cho ta biết tâm sự đó không như con sóng bạc đầu cồn cào, gào xé. Nó vẫn đang nhẹ nhàng, nhưng trùng trùng muôn lớp đang lên, tiềm tàng nhiều bí ẩn. Ta chợt nhớ cõi lòng mình cũng có những khi hoang mang, thất vọng. Muôn lớp sóng sầu dâng lên, ta mệt mỏi, chán nản giữa đường đời.

Chính vì vậy mà: “Ngựa buông vó người đi chùng chân đã bao lần”. Giống như “mây miền”, “Ngựa buông vó” khiến ta liên tưởng về những chuyến đi, những con đường. Đường đời đầy khó khăn, khiến ta bao lần mỏi gối chùng chân, mệt mỏi, chán chường, muốn kết thúc tất cả, không muốn bước tiếp. Tiếng ca dạ lan giống như cơn mưa lạnh làm cho lữ khách đường xa thêm mệt mỏi, não nề.

Ta mơ hồ chú ý đến một thứ âm thanh khác, âm thanh bản năng của loài sâu:

“Vùng u tối loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng

Vậy là Trịnh đã đưa ta sang một thế giới khác, thế giới của loài sâu với bữa tiệc âm thanh cuối cùng của đời mình. Phải chăng đây là những khúc hoan ca chứ không buồn như tiếng ca dạ lan? Ngay từ đầu Trịnh đã có dụng ý đặt kiếp người và kiếp sâu trong sự tương quan. Câu này và câu thứ hai trong bài rất logic. Do ngủ quên (trong tóc chiều) nên loài sâu một đời bỏ ngõ đêm hồng. “Đêm hồng” theo Trịnh có lẽ là một đêm của ánh sáng, của hạnh phúc, niềm vui, của liên hoan… (khác với đêm đen, ông có riêng một bài hát nhan đề “Đêm hồng”). Chỉ còn đêm cuối thôi, giây phút hiện hữu cuối cùng chốn địa đàng chúng đã kịp cất lên khúc ca của đời mình, kiếp mình. Chúng hát lên, ca lên để khẳng định sự tồn tại của mình. Như Xuân Diệu đã nói: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn là le lói suốt trăm năm” Nếu như kiếp người khoảng trăm năm thì kiếp sâu chỉ ba tháng. Ba tháng so với trăm năm thì quá nhỏ bé, nhưng cũng là một vòng đời. Một đời với một giấc ngủ dài và đêm hồng hát ca, vậy là chẳng có khổ đau muộn phiền. Đời người trăm năm hỏi được bao nhiêu đêm hồng mà nước còn dâng lên mắt em? Trịnh nói nước ngoài trời nhưng phải chăng chính là lệ sầu trong lòng em, trong lòng tôi?

Mây bay vì gió, sóng lên cũng vì gió, nhưng gió bắt nguồn từ đâu? Ta chỉ biết đó là từ đất trời. Cũng như tiếng ca của loài sâu:

“Tiếng ca bắt nguồn từ đất khô từ mưa gió từ vào trong đá xưa”

Bất kì một dân tộc nào trên thế giới cũng đều có ngôn ngữ và không dân tộc nào không biết tạo giai điệu cho ngôn ngữ của mình để có nhạc. Nhạc giống như một bản năng sẵn có. Loài sâu có lẽ cũng như người, chúng sinh ra và sẽ hát ca.(Nếu ai đã từng sống ở thôn quê sẽ biết, những đêm hè trong vắt, đầy trăng sao, gió nhẹ mơn man, ta cứ ngỡ lạc vào một đêm tiền sử với bản hợp tấu của các thanh âm nguyên thủy, huyền diệu của dế, của sâu, của các loại côn trùng, lưỡng cư… thậm chí có người nói những đêm này loài rắn cũng cất lên tiếng hát). Nhưng tiếng côn trùng trong đất, đá, mưa gió không không thể giống nhau, cũng như người ở những vùng khác nhau thì nói tiếng khác nhau. Đời khổ, bế tắc thì tiếng ca nghe ai oán, não nề, đời vui, tươi sáng thì tiếng ca hân hoan, đời trầm tư, sâu sắc thì tiếng ca cũng sâu lắng, suy tư. Đến đây ta rõ hơn ở trên tại sao TCS lại nói:

“Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng”

“Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền”

Chính kiếp người chốn địa đàng còn nhiều khổ đau nên mới sinh ra những lời ca ai oán. Mắt mù và tóc xanh đen trán thơ là hai sinh linh đau khổ điển hình mà TCS lấy ra từ cuộc đời. Họ đang cố tồn tại nơi địa đàng bằng cách cất lên tiếng ca từ cõi lòng khô héo.

Một hình ảnh ta tưởng là rời rạc không ăn nhập đó là hình ảnh loài rong dưới lòng sông. Trịnh đã cố ý dùng định từ “loài” đặt trước sâu và rong , hai hình tượng bé nhỏ, bình thường nhưng cũng là một giống trong vũ trụ như loài người. Nhân hóa loài rong ngủ sâu dưới đáy sông là muốn nói đến sự yên bình, không có khổ đau, sóng gió, đua chen. Nói đến sự yên bình của loài rong phải chăng để tương phản với cuộc sống đầy rẫy muộn phiền của con người, khi mà ấn tượng về những đau khổ trong chiến tranh vẫn khó phai mờ:

“Mới hôm nào bão trên đầuLời ca đau trên cao” Đoạn cuối của bài tác giả trở về với thực tại:

Ngàn mây xám chiều nay về đây treo lững lờ Và tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vừa Rồi từ đó loài sâu nửa đêm quên đi ưu phiền Để người về hát đêm hồng Địa đàng còn in dấu chân bước quên.

Thực tại có vẻ yên bình hơn. Mây tuy xám đó nhưng không nặng nề, lạc gió mà treo lững lờ. Tiếng hát không còn như than phiền, ngại ngùng nữa mà êm đềm đủ đưa ta vào giấc ngủ vừa, tuy không say quên như loài sâu, không ngủ vùi như loài rong nhưng cũng đủ tạm quên đi dấu chân chốn địa đàng mặc dù còn in bước.

Loài sâu sau khi cất lên khúc ca cuối cùng, thì chúng cũng quên đi ưu phiền (phải chăng chúng đã bước lên thiên đàng). Vậy còn loài người chúng ta tại sao không chuẩn bị, không hát đi những đêm hồng, để một mai từ biệt “Địa đàng còn in dấu chân bước quên”.

Bước chân cuối cùng chốn địa đàng được TCS miêu tả thật tinh tế, đó là một giấc ngủ vừa nửa tỉnh, nửa mê, tỉnh đấy mà mê đấy. Phải chăng nó như đời người mơ hồ. Con người sinh ra để in dấu trên mặt đất và trong lòng người, nhưng ta đi rồi ta còn nhớ gì không? Có lẽ tất cả sẽ trở về hư ảo. Đúng như nhan đề, ca khúc như một bức tranh vẽ lại, chụp lại các khoảnh khắc, một vài dấu ấn chốn địa đàng mà theo TCS đó là một buổi chiều đầy mây xám. Đó là những giấc ngủ quên, ngủ sâu, ngủ vừa, đó là những lời ca đau, than phiền, ngại ngùng, và cũng có những đêm hồng hát ca. Hạnh phúc có, đớn đau có… địa đàng là tất cả nhưng rồi tất cả sẽ rơi vào quên lãng. Chúng ta sẽ quên đi ưu phiền vĩnh viễn.

“Dấu Chân Địa Đàng” – Những Dấu Chân Siêu Thực Hằn In Cõi Hư Vô

          Trong bộn bề của cuộc sống hiện tại, đôi khi ta thèm một khoảng lặng để lắng nghe một giai điệu bài hát trầm lắng, yên tĩnh. Nhưng cái khoảng lặng của ước mơ ấy thật xa vời trong nhịp sống tất bật hiện đại này. Và chợt có một khoảnh khắc nào đó, ta được tịnh tâm và giai điệu kia cất lên khiến ta giật mình phát hiện ra bao suy tư, bao ý nghĩa mới mẻ, sâu xa từ những ca từ, giai điệu quen thuộc. Đó là cái cảm giác được đánh thức, được bừng ngộ của cảm xúc, của tâm linh. Tôi đã đã có một khoảnh khắc gặp lòng mình như thế khi nghe thí sinh Nguyễn Thị Minh Chuyên hát “Dấu chân địa đàng” của Trịnh Công Sơn trong đêm diễn tuần 5 của “Sao Mai điểm hẹn 2010”.

          Khi xướng cái tên Minh Chuyên với ca khúc “Dấu chân địa đàng” của Trịnh là màn kết của đêm diễn – đêm quyết định ai sẽ tiếp tục cuộc chơi, ai sẽ phải từ bỏ cuộc chơi “Sao Mai điểm hẹn 2010”, tôi đã rất băn khoăn xen thêm phần lo Mỗi lần cô ấy xuất hiện đều mang đến một bất ngờ, một điều gì đó phá cách, mới lạ. Nhưng đó là chuyện của những nhạc phẩm khác của những tác giả khác. Còn đây là “Dấu chân địa đàng” của Trịnh – một bài hát rất hay, rất quen, và với tôi là gắn liền với cái tên ca sĩ Khánh Ly thể hiện. Tuy nhiên khi nghe Minh Chuyên hát xong, tôi thực sự bị thuyết phục và cầm ngay di động lên để bình chọn cho Chuyên, dẫu biết rằng cách thể hiện, những bài hát mà cô chọn sẽ khó lòng nhận được thật nhiều tin bình chọn từ khán giả, nhất là khán giả trẻ quen nghe nhạc dễ dãi, chạy theo hình thức hay mốt thời đại. Thực tâm mà nói, Minh Chuyên đã đem đến một cách hát, một cách xử lý mới, khiến tôi “vỡ” ra nhiều điều từ ca khúc rất quen mà rất lạ này. Nói là “vỡ” ra chứ tôi vẫn thấy thật mù mịt khi nghe ca khúc và đọc ca từ của ca khúc này. Nó có cái gì nhẹ nhàng, bay bổng mà lại cứ bàng bạc, mờ xám, nó cứ ám ảnh nhưng lại cứ trôi trượt đi. Ngôn từ và hình ảnh của nó và là cụ thể, vừa rất hư vô, thấm đẫm màu sắc siêu thực, một vẻ đẹp nhiệm màu của sự huyền bí.

          Ngay từ nhan đề ca khúc đã mang dấu ấn siêu thực – “Dấu chân địa đàng”. Hai danh từ, một cụ thể, một trừu tượng đặt cạnh nhau không cần đến quan hệ từ nối kết. Cái nhan đề ấy như mang chút ngẫu hứng, mở ra nhiều trường liên tưởng phong phú và tác động mạnh vào cái phần vô thức trong ta. Nó khiến đầu ta cứ phải hình dung, liên tưởng và chắt chiu suy tư và dấy lên trong lòng bao khúc mắc: Dấu chân còn lưu vết trong địa đàng hay dấu chân của địa đàng in hình trong cuộc sống? Tại sao chỉ là dấu chân địa đàng thôi? Nó rất nhỏ nhẹ, mong manh, hư ảo. Hình ảnh ấy cũng như nhiều hình ảnh khác trong nhạc Trịnh mang tính chất giao thoa, mơ hồ thực – ảo.

          Thực ra “Dấu chân địa đàng” là bài hát có giai điệu rất hay, vừa có chỗ tiết tấu nhanh, lại có quãng chậm, trầm, ngân nga kéo dài. Nhưng cảm giác trỗi nhất của tôi khi nghe giai điệu nhạc phẩm này là cái gì đó vút cao, bay xa, phiêu bồng, thanh thoát. Vậy mà đằng sau gia điệu rất đẹp, thanh và phiêu ấy, nhất là giọng hát vang lên trên nền guitar nhẹ nhàng, mộc mạc, tinh tế lại là khối ngôn từ nguyên phiến, khó phân giải, bình giá. Có lẽ cách tư duy rất ngẫu hứng, phi lôgic của dấu ấn siêu thực trong ca từ đã khiến ca từ của bài hát này là “Bất khả giải”. Dù như thế chăng nữa, tôi cũng xin đưa ra vài lời như một cách hiểu, cách cảm theo thiển ý của cá nhân về những gì rất thực và rất siêu thực của “Dấu chân địa đàng”.

          Mở đầu bài hát là những hình ảnh không gian đầy ấn tượng mở ra theo nhiều chiều:

“Trời buông gió và mây về ngang bên lưng đèo

Mùa xanh lá loài sâu ngủ quên trong tóc chiều

Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền

Bàng hoàng lạc gió mây miền

                                   Trùng trùng ngoài khơi nước lên sóng mềm”

          Nói đến không gian chỉ là nói đến những hình ảnh đậm nhất, cảm giác trỗi nhất trong đoạn ca từ mà thôi. Những “trời buông gió”, những “mây ngang lưng đèo”, “lạc gió mây miền”, “ngoài khơi nước lên sóng mềm”… Tất cả không gian bao la cùng bao chuyển động khiến không gian ấy như động hơn. Những động thái chuyển động của các sự vật trong không gian thật nhẹ nhành, bay bổng, mềm mượt, vút cao. Tất cả đều như vươn lên, cuốn đi theo phiêu lãng, bồng bềnh. Đồng hành, song song với trục không gian ấy là một dòng thời gian mong manh, xuyên thấu: “mùa xanh lá loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”, “Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền”. Sợi dây thời gian như ghìm lại cái bay bổng, làm loãng cái vút cao để lại những suy tư, những dư ảnh buồn trong lòng. Bởi mắc kẹt trong không gian và thời gian là những cuộc đời nhỏ nhoi, quên lãng. Một loài sâu “ngủ quên trong tóc chiều”, một cuộc đời với “tiếng ca lên như than phiền”, một áng mây bàng hoàng khi lạc gió, khi cô quạnh ngưng đọng giữa giao điểm của không gian, thời gian. Các trạng thái “ngủ quên”, “than phiền”, “bàng hoàng” của ba đối tượng nhưng thực ra là đồng quy để khắc chạm cái trạng huống cảm xúc duy nhất của một chủ thể đang xoay nhìn, ngắm nghía mình trong một cõi đa chiều của không, thời gian. Khối đa diện ấy khiến con người kia đi từ say giấc ngủ quên đến thức tỉnh để phiền muộn, than tiếc cho cuộc đời, cho kiếp mình cũng như kiếp sâu, và suy nghiệm để bàng hoàng về chính mình – mình trong cuộc đời mà như “mây miền lạc gió”. Cái trạng thái bàng hoàng cho thất nhiều hoảng hốt, thẫn thờ, nhói buốt về bản thể khi nhận ra kiếp “con chim lìa đàn”, kiếp “mây miền lạc gió” của đời mình trong khi vạn vật, vũ trụ và thời gian vẫn bất biến, vô thủy, vô chung. Thực sự, tư duy trừu tượng, cái ngẫu hứng của chủ nghĩa siêu thực đã phát huy đến tận cùng giá trị của nó trong đoạn ca từ này. Trịnh đã sáng tạo ra những nhau. Nó phá vỡ cấu trúc ngữ pháp và cách tư duy thông thường. Tất cả chỉ là những hình ảnh ấn tượng lướt qua đầu, để lại những ảo giác, những dư ảnh đầy ám ảnh. Chính những hình ảnh đó đã gọi mời phần trực giác, cõi tiềm thức sống dậy với bao liên tưởng, bao suy nghiệm mênh mang, bất tận.

          Rồi sau đó “dấu chân địa đàng” cũng dần dần hiện lên trong cảm giác hư thực của ảo giác, của một giấc mơ địa đàng in dấu chân:

“Ngựa buông vó người đi chùng chân đã bao lần

Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng

Vùng u tối loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng

Một đời bỏ ngỏ đêm hồng

Ngoài trời còn dâng nước lên mắt em”

          Khi mới nghe ca khúc, mới đọc ca từ tôi thực sự bị choán ngợp bởi một cảm giác lạ lùng, phi lý, âm u, ma mị. Quả thực những hình ảnh trong đoạn ca từ này là sự đan xen, hòa quyện giữa cái thực và cái ảo, giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, giữa cái quen thuộc, gần gũi và cái xa lạ, mới mẻ. Tất cả giao hòa, tương tranh, cộng gộp thành một thể – một thể phi lý để nói điều có lý, cái hỗn tạp để nói cái trật tự, cái bất logic để thể hiện điều lôgic. Nếu đặt trong quan hệ với đoạn ca từ trước chúng ta sẽ thấy một mối ràng buộc, một lôgic của hình ảnh và cảm xúc. Thứ nhất đoạn này vẫn có sự lặp lại và phát triển một số hỉnh ảnh nổi bật, là điểm nhấn: khúc hát, loài sâu, cuộc đời, không gian. Thứ hai là sự vận động của thời gian: từ chiều (“Loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”) sang nửa đêm (“Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng”). Thứ ba là sự vận động của tâm thế, trạng thái nhân vật trữ tình từ “ngủ quên” – “Than phiền” – “bàng hoàng” – “chùng chân” – “ngại ngùng”. Rõ ràng vẫn có một mạch suy cảm chủ đạo trong sự vận động phát triển. Cái cảm thức của con người hòa trong không gian, thời gian, để từ đó bật lên, khởi phát, lồ lộ như một sợi dây xuyên suốt, sáng lấp lánh, hằn sâu trong nhãn quan và trong cảm nhận người nghe. Đến đây, cái cảm giác thanh nhẹ, bay bổng, phiêu du đã không còn. Chỉ còn lại một bước chân của đời thực trong địa đàng rã rời, mỏi mệt, chùng chân cùng vó ngựa. Cảm thức đậm đặc nhất trong đoạn ca từ là sự tương phản: hành trình/ vó ngựa, bước chân chùng lại vì mỏi mệt; giữa bóng đêm tịch liêu/ lời ca ngại ngùng của khúc hát cuối cùng; giữa hương thơm của thiên nhiên/ mật đắng của cuộc đời. Bao trùm, quyện lấy tất cả là đêm đen, là bóng tối, là một màu u ám, là cõi tịch liêu – tịch liêu không gian, thời gian và tịch liêu trong tâm hồn. Khúc ca cất lên như bị mất hút, bị lún xuống sâu thẳm đêm đen thành hố hầm tuyệt vọng. Đêm hồng đã bỏ ngỏ và nước dâng lên mắt em. Phải chăng đó là dòng nước mắt ngập đầy những đêm u vắng, buồn vương, tiếc nuối, hoang liêu trước mênh mang cuộc đời? Có cái gì cứ se thắt, xót xa, hoài thương, tiếc nhớ trong những ca từ ấy. Hay là người ta đã bỏ lỡ dấu chân địa đàng để mọi thứ tươi đẹp đã phôi pha, đã vĩnh viễn mất đi, chỉ còn lại niềm tiếc nhớ, còn lại bóng đen tịch mịch, cô quả?

Và rồi từ nơi mịt mờ đen xám ấy, tiếng ca vẫn cất lên lần cuối cùng như phút lóe sáng trong tuyệt vọng. Nó cứ lảnh lót ru vang như tiếng con chim kia chỉ hót một lần duy nhất để tiếng hót vang lên tận cao xanh, khiến tất cả nhân gian phải lặng đi lắng nghe và thượng đế trên thiên đình phải mỉm cười, dù biết rằng mình đã mang cái chết trong người khi đâm vào giữa đám cành gai góc của bụi mận gai. Nhưng cuộc sống là thế, cái dấu chân địa đàng kia còn hằn in khi và chỉ khi người ta biết cháy hết mình, dám trả giá để nó mãi hằn in ở đó. Bài ca đó bất tuyệt, vĩnh hằng dù nó cất lên từ đâu chăng nữa:

Tiếng ca bắt nguồn từ đất khô

Từ mưa gió

Và từ trong đá xưa

Đến bây giờ mắt đã mù

Tóc xanh đen vầng trán thơ

Dòng sông đó

Loài rong im ngủ sâu

Mới hôm nào bão trên đầu

Lời ca đau trên cao”.

          Vẫn là tiếng ca nhưng không còn là tiếng ca ẩn ngữ, gián tiếp của loài sâu hay của dạ lan nữa mà là tiếng ca của cuộc đời, là tiếng lòng của con người. Tiếng ca ấy là cây đời mãi mãi xanh tươi vì nó là tiếng lòng sâu thẳm, đã sống hết mình, cháy hết nhiệt huyết con tim để lại dấu chân địa đàng dù nó bắt nguồn từ đất khô, từ mưa gió, từ trong đá xưa; dù nó cất lên khi mắt đã mù, tóc xanh đen vầng trán thơ. Và tiếng ca – tiếng đời ấy một khi cất lên khiến tất cả các loài khác phải ngừng lặng lắng nghe, lắng nghe một bài ca bất tuyệt, bài ca đầy xót đau của bão táp cuộc đời. “Lời ca đau trên cao” hay chính nỗi đau đời, những bão bùng từ ngày mẹ cha cho mang nặng kiếp người khiến lời ca vút cao? Tiếng ca – tiếng lòng – tiếng đời đã hòa vào làm một cất lên những giai điệu diết dóng, tầm buồn, đầy ám ảnh, đau thương của ca từ. Ở đoạn này, giai điệu trầm hẳn, chậm hơn và dằn xuống những ấm thấp như từng tiếng đời, từng suy tư lần lượt rơi đổ theo từng nốt nhạc của giai điệu, theo từng lời ca từ ngân lên. Cái ngẫu hứng vẫn cứ tuôn chảy dào dạt đem đến những cảm giác lạ, những triết lý sâu, những day dứt lâu trong tâm khảm người nghe nhạc.

          Để rồi, sau đó, ca từ và giai điệu lại vút lên lần cuối, nhẹ nhàng hơn, êm du hơn như một sự giải thoát:

“Ngàn mây xám chiều nay về đây treo hững hờ

Và tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vừa

Rồi từ đó loài sâu nửa đêm quên đi ưu phiền

Để người về hát đêm hồng

Địa đàng còn in dấu chân bước quên”

          Khúc ca kết thúc, người hát ngừng lời nhưng dư âm vẫn còn vang mãi, vang lên bởi những giấc mơ đẹp, lãng mạn, bay bổng. Những hình ảnh trở lại nhưng là sự trở lại trong chính đời sống đầy ý nghĩa của nó. Mây xám về đây treo hững hờ, tiếng hát ru con người trong giấc ngủ vừa, loài sâu quên đi ưu phiên để cứ vui chơi trong cuộc đời, con người về hát trong đêm hồng và địa đàng in dấu chân bước quên. Tâm hồn, ngôn ngữ, hình ảnh cùng giai điệu cùng thăng hoa, siêu thoát. Giấc mơ về dấu chân địa đàng đã hiển hiện thành hiện thực. Hành trình gian truân, đầy khắc khoải đã kết thúc thật đẹp, thật thơ, thật mơ, thật phiêu du. Bởi tất cả đang ở trong địa đàng, địa đàng tình yêu, địa đàng sắc đẹp, địa đàng âm thanh và địa đàng của mơ ước. Dù con người chỉ để lại dấu chân bước quên trong địa đàng nhưng ý nghĩa của nó thì không là một bước quên.

          Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều mang một dấu ấn riêng, có một đời sống riêng của nó. “Dấu chân địa đàng” đã chạm vào lãnh địa sâu thẳm tâm hồn người nghe, đánh thức phần vô thức sâu thẳm trong ta để lại những ấn tượng, ảo giác của hiện thực và ước mơ. Đó chính là đời sống riêng, nét đẹp riêng của ca khúc. Nó mãi mãi đưa ta vào giấc mơ cùng những dấu chân bước quên chốn địa đàng, để ta bước chân vào cuộc lãng du của đôi bời hư thực, được một lần chạm vào lãnh địa cõi siêu thực và trải nghiệm cùng “Dấu chân địa đàng” phù du, ngẫu hứng cùng bao ám ảnh hằn sâu.

                                                                                                                                   11/2010

Lời Bài Hát Dấu Chân Địa Đàng, Trịnh Công Sơn, Nhạc Trịnh, Lyrics Dấu

Lời bài hát Dấu Chân Địa Đàng là một sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Dù đã ra mắt rất lâu nhưng đến nay ca khúc Dấu Chân Địa Đàng vẫn được rất nhiều thế hệ khán giả yêu thích lắng nghe. Có rất nhiều ca sĩ đã lựa chọn thể hiện ca khúc này như Hồng Nhung, Đàm Vĩnh Hưng, Quang Dũng, Tuấn Vũ nhưng ấn tượng nhất vẫn là phần trình diễn của ca sĩ Khánh Ly.

Bài hát Dấu Chân Địa Đàng là một trong những ca khúc nhạc Trịnh được yêu mến nhất, đem lại cho người nghe rất nhiều những cảm xúc lắng đọng. Trong tuyển tập những bài hát nhạc Trịnh hay nhất không thể không kể đến bài hát này. Ca khúc Dấu chân địa đàng đã được Khánh Ly thổi hồn vào từng ca từ, với những giai điệu du dương, tha thiết, chất chứa đầy nỗi niềm.

Lyrics Dấu Chân Địa Đàng

1. Lời bài hát Dấu Chân Địa Đàng

Trời buông gió và mây về ngang bên lưng đèoMùa xanh lá loài sâu ngủ quên trong tóc chiềuCuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiềnBàng hoàng lạc gió mấy miềnTrùng trùng ngoài khơi nước lên sóng mềmNgựa buông vó người đi chùng chân đã bao lầnNửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùngVùng u tồi loài sâu hát lên khúc ca cuối cùngMột đời bỏ ngõ đêm hồngNgoài trời còn dâng nước lên mắt emTiếng ca bắt nguồn từ đất khôtừ mưa gió từ vào trong đá xưaÐến bây giờ mắt đã mùTóc xanh đen vầng trán thơDòng sông đó loài rong yên ngủ sâuMới hôm nào bão trên đầuLời ca đau trên caoNgàn mây xám chiều nay về đây treo lững lờVà tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vùiRồi từ đó loài sâu nửa đêm quên đi ưu phiềnđể người về hát đêm hồngđịa đàng còn in dấu chân bước quên.

2. Video Dấu Chân Địa Đàng 3. Hợp âm Dấu Chân Địa Đàng

Trời buông [Dm]gió và [Gm]mây về ngang bên [Dm]lưng đèoMùa xanh [Gm]lá, loài [Dm]sâu ngủ quên trong tóc [Gm]chiềuCuộc đời [Dm]đó nửa đêm tiếng [Gm]ca lên như than [A7]phiềnBàng hoàng lạc gió mấy [Gm]miền, trùng trùng ngoài khơi nước [A7]lên sóng mềmNgựa buông [Dm]vó người [Gm]đi chùng chân đã [Dm]bao lầnNửa đêm [Gm]đó lời [Dm]ca Dạ Lan như ngại [Gm]ngùngVùng u [Dm]tối, loài sâu hát [Gm]lên khúc ca cuối [A7]cùngMột đời bỏ ngõ đêm [Gm]hồng, ngoài trời còn dâng nước [A7]lên mắt [Dm]emĐiệp khúc:Tiếng ca bắt [Dm]nguồn từ đất [Gm]khôTừ mưa [A7]gió từ [Dm]vào [Dm7]trong đá [Gm]xưa đến bây [Dm]giờMắt đã [C]mù tóc [Dm]xanh đen vần trán [Gm]thơDòng sông [Dm]đó loài rong yên ngủ [C]sâuMới hôm [Bb]nào bão trên [Am7]đầu, lời ca đau trên [Gm]caoNgàn mây [Dm]xám chiều [Gm]nay về đây treo [Dm]lững lờVà tiếng [Gm]hát về [Dm]ru mình trong giấc ngủ [Gm]vừaRồi từ [Dm]đó loài sâu nửa [Gm]đêm quên đi ưu [A7]phiềnĐể người về hát đêm [Gm]hồng địa đàng còn in dấu [A7]chân bước [Dm]quên. [Gm Dm]

https://thuthuat.taimienphi.vn/loi-bai-hat-dau-chan-dia-dang-35742n.aspx Nếu các bạn yêu thích những bài ca nhạc Trịnh thì chắc chắn đều không thể quên các ca khúc nổi tiếng nhất của ông như Tuổi đá buồn, Còn tuổi nào cho em, Hạ Trắng, Cát bụi, Biển nhớ, Một cõi đi về… Ca khúc Tuổi đá buồn là bài hát đi cùng năm tháng, được ca sĩ Khánh Ly thể hiện rất thành công, đưa người nghe đến những cung bậc cảm xúc sâu lắng, thiết tha.

loi bai hat Dau Chan Dia Dang

, bai hat Dau Chan Dia Dang mp3, tai bai hat Dau Chan Dia Dang video,

Ca Khúc ‘Dấu Chân Địa Đàng’ Của Trịnh Công Sơn: Dấu Ấn Kiếp Người Nơi ‘Cõi Tạm’ Trần Gian

Trịnh Công Sơn sáng tác ca khúc “Dấu chân địa đàng” để nói lên nhận thức của mình đối với cuộc đời, nhạc ông thấm nhuần tư tưởng phi bạo lực, phi chính trị, yêu đời, yêu người, và nhất là hướng thiện, hướng Phật, hòa hợp với vạn vật và vũ trụ.

Trịnh Công Sơn chuyên viết những ca khúc về tình yêu, quê hương và thân phận. Tuy những đề tài đó là quen thuộc với đại chúng nhưng có những bài hát của ông lại không dễ hiểu chút nào. Có lẽ là bởi vì trong ông có nhiều lý giải về cuộc đời từ nhiều góc độ và cảnh giới khác nhau; và ông đã tổng hòa những cách nhìn khác nhau đó vào một ca khúc nhất định và hòa trộn các ca từ theo một cách rất riêng có của ông để tạo nên những tác phẩm độc đáo; và ‘Dấu chân địa đàng’ mà ông sáng tác vào khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước là một ca khúc như vậy.

Mỗi người nghe, sẽ tùy theo tri thức và cảnh giới của mình mà có những cảm nhận và rung động khác nhau. Nói cách khác, có thể sẽ có nhiều câu chuyện cùng được kể trong một ca khúc của Trịnh Công Sơn. Có thể nói Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ có khả năng “thả rơi” một cách dịu dàng những ngôn từ đẹp đẽ vào trong một dòng suối nhạc cũng đẹp đẽ mượt mà.

Người nghe như được tắm mình trong dòng suối nhạc khi thì êm đềm, khi thì mãnh liệt của ông; ca từ trong dòng suối đó có khi như những hòn cuội nhỏ, khi thì lại như những nắm cát vàng lấp lánh, nhưng nhiều khi cũng là những tảng đá lớn đồ sộ chắn ngang dòng chảy. Một khúc suối không nói lên được nhiều điều, nhưng một con suối thì lại mang trong nó cả một sinh mệnh sống mãnh liệt trường tồn. Nhạc của ông rất sang trọng, nhưng lại rất gần gũi, rất đời là vậy! Không gian trong giai điệu của ông mênh mông khoáng đạt mà vận động trôi chảy không ngừng:

Trời buông gió và mây về ngang bên lưng đèo…

có lúc cũng chững lại theo tâm trạng của con người:

Ngàn mây xám chiều nay về đây treo lững lờVà tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vừa

Ông có thể chưa đạt được hiệu quả nhận thức rõ ràng cho thính giả nhưng đã hoàn toàn đạt được hiệu quả cảm xúc và nghệ thuật. Đó là cái hay của nhạc của ông và cũng là mục đích cuối cùng của âm nhạc – làm rung động con tim.

Cái tên bài hát ‘Dấu chân địa đàng’ có lẽ là muốn nói đến những thứ mà một kiếp người phải trải qua và những dấu ấn mà người đó để lại trên thế gian này – một cõi tạm – trước khi có thể lên ‘thiên đàng’. Con đường địa đàng dĩ nhiên là phải có đủ mọi vui buồn sướng khổ. Con đường đời của một người có thể nói là cũng khá dài, khá mệt mỏi để đi cho trọn, dù có những lúc hoan ca nhưng cũng không thể tròn đầy:

Ngựa buông vó, người đi chùng chân đã bao lầnNửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng

Trong hành trình dài mệt nhọc đó, người ta tránh sao khỏi những lúc lo âu, buồn bực đến mất ăn mất ngủ; có những lúc hoang mang cảm giác như mình đang đi trên con đường vô định, chẳng biết là sẽ về đâu khi trước mặt là dồn dập những bão tố phong ba:

Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiềnBàng hoàng lạc gió mây miềnTrùng trùng ngoài khơi nước lên sóng mềm

Con người tự cho mình cao lớn, nhưng đứng trước vũ trụ bao la thì có khác chi một loài sâu nhỏ, sung sướng mãn nguyện trong ngôi nhà dù là bề thế của mình thì trong sự mênh mông của thiên địa, càn khôn thì cũng có hơn gì một con sâu đang nằm yên trong tổ kén đâu; vậy nên mới có cảnh:

Mùa xanh lá, loài sâu ngủ quên trong tóc chiều

Nhân loại sống trong cõi mê, cõi vô minh này cũng có gì đâu khác loài sâu sống trong đêm tối, cứ sinh rồi diệt, sao biết được ý nghĩa chân thực của sinh mệnh chính mình; khi không biết được tương lai của bản thân sẽ đi đâu về đâu, đời sống của mình khi nào thì kết thúc, thì có hát lên câu ca nào cũng có thể là câu ca cuối cùng của một kiếp sống, hát đấy mà như khóc đấy, nên mới có lời ca:

Vùng u tối loài sâu hát lên khúc ca cuối cùngMột đời bỏ ngỏ đêm hồngNgoài trời còn dâng nước lên mắt em

Tiếng ca là của con người, thế nhưng trong tâm thức của nhạc sĩ thì con người lại cũng sinh ra từ cát bụi và sẽ trở về thành cát bụi, vòng tuần hoàn luân hồi như thế không biết đã bắt đầu từ thuở nào trong quá khứ xa xăm, nên ông mới hát:

Tiếng ca bắt nguồn từ đất khô từ mưa gióTừ vào trong đá xưaĐến bây giờ… mắt đã mùTóc xanh đen vầng trán thơ

Con người được làm người từ đất đá của xa xưa, nhưng lúc được thân người đó cũng là lúc con người bị rơi vào cõi mê, đôi mắt thịt không nhìn thấy được chân tướng của vũ trụ và sinh mệnh, người trần mắt thịt không nhìn thấy được những điều kỳ diệu của thiên giới. Dù đã luân hồi bao kiếp cũng chỉ như đứa trẻ ngây thơ trong con mắt của thần Phật mà thôi. Ngây thơ đến độ cũng rất dễ quên đi những gì đã xảy ra, chẳng khác gì loài rong rêu nằm yên dưới đáy nước sâu chỉ không lâu sau cơn bão tố:

Dòng sông đó loài rong yên ngủ sâuMới hôm nào bão trên đầuLời ca đau trên cao

Khi đã quên được hay muốn quên đi những điều khó chịu gây sầu não trong cuộc sống, con người dễ đi sang một trạng thái đối lập, đó là sa đà vào những cuộc vui trần tục, âu cũng là để thăng bằng lại đời sống tinh thần, có vẻ như là một sự buông xuôi, mặc cho con tạo xoay vần.

Rồi từ đó loài sâu nửa đêm quên đi ưu phiềnĐể người về hát đêm hồng

Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Văn Minh đã bàn về khía cạnh “Cảm thức sáng tạo ngôn ngữ trong ca khúc Trịnh” như sau:

Con người chúng ta có thể quên những điều mình đã làm, có thể là điều tốt mà cũng có thể là những điều làm tổn thương người khác; nhưng cũng giống như những dấu chân mà người khách bộ hành để lại trên con đường đất, dấu chân địa đàng mà chúng ta để lại trên cõi đời này có thể là vĩnh viễn không bao giờ bị bôi xóa, đó cũng là thông điệp mà nhạc sĩ dành cho kết thúc của bài hát: ‘Địa đàng còn in dấu chân… bước quên’, cũng là để nói rằng con người chúng ta phải chịu trách nhiệm cho chính những hành vi của mình trong kiếp sống này, chúng ta có thể quên, nhưng ‘ông trời’ không quên những việc tốt xấu mà chúng ta đã làm – thiện ác hữu báo, âu cũng là quy luật của vũ trụ này.

Về phần trình bày ca khúc này, Khánh Ly vẫn là người không thể bị thay thế. Sự truyền cảm của chị rất sâu và rất xa, dù khi đã qua đỉnh cao phong độ của chị nhưng vẫn “giữ được lửa” cho bài hát. Qua thời gian, rất nhiều ca sĩ có tên tuổi đều tìm cách thể hiện hát bài này.

“Phương và người sản xuất âm nhạc của đĩa này đã ban cho “Dấu chân địa đàng” một sự tái sinh. Cô muốn chứng minh rằng nhạc jazz hoàn toàn có thể hòa quyện cùng với tác phẩm của họ Trịnh. Dù đây là một tác phẩm lâu đời, nhưng với chất liệu jazz đầy đam mê lồng với những câu phiêu của Phương lộng lẫy, nó làm cho ca khúc trở nên đương đại như chưa từng có. Chất giọng hơi khàn đó của cô làm căng đầy hay cho nó trở nên thô ráp khi ca từ yêu cầu đã là một phần rất quan trọng tô điểm cho thẩm mỹ về jazz”.

Ca khúc này có thể nói là khá rộng đất cho những người hát sau Khánh Ly được sáng tạo phá cách, chẳng hạn ca sĩ Thu Phương thể hiện với phong cách và chất giọng mạnh mẽ nhưng cũng không làm cảm xúc của người nghe lệch đi nhiều so với các phiên bản trước đó. Nhưng hãy nghe trang Wikipedia khen ngợi về sự thể hiện ‘Dấu chân địa đàng’ của Thu Phương trong album riêng của cô có nhan đề “Như một lời chia tay’, phát hành năm 2005:

Hồng Nhung thể hiện ca khúc này với một sự trưởng thành và đằm thắm trong chất giọng, mang lại một cảm xúc bay bổng như thường thấy khi cô thể hiện các ca khúc của Trịnh Công Sơn. Có cảm giác như Hồng Nhung luôn giữ nguyên sự tự tin khi bước đi trong “thánh địa” âm nhạc của Trịnh Công Sơn.

Trịnh Công Sơn sáng tác để nói lên nhận thức của mình đối với cuộc đời, nhạc ông thấm nhuần tư tưởng phi bạo lực, phi chính trị, yêu đời, yêu người, và nhất là hướng thiện, hướng Phật, hòa hợp với vạn vật và vũ trụ.

Có thời nhạc của ông bị gán cho cái tên là ‘phản chiến’ và bị cấm đoán, nhưng nếu rạch ròi nghĩa đen của câu chữ thì ‘phản đối chiến tranh’ cũng là một hành vi cao đẹp, nếu nhìn dưới một giác độ khác thì đó cũng chính là góp phần ‘gìn giữ hòa bình’, đáng được nhận giải thưởng thay cho bị phê phán.

Ông không theo phe phái nào, mà thực sự là một nhạc sĩ của lòng nhân ái và bao dung, luôn theo đuổi những cảm xúc tươi mới của hiện thực cuộc sống ngõ hầu làm nguyên liệu cho sáng tác… Bản thân ông cũng tự nhận rằng: “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo…”. Ai còn nỡ trách cứ một con người như thế!