Ý Nghĩa Từ Định Mệnh / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Thanhlongicc.edu.vn

Số Mệnh – Định Mệnh

SỐ MỆNH LÀ GÌ ?

Trong đời sống thường ngày, chúng ta thường nhắc đến danh từ Số mệnh hay Số mạng còn gọi là Định mệnh, Thiên định, Trời định. Có một số người chấp nhận và một số người không chấp nhận là có Số mệnh. Vì thế ta nên có cách nghĩ như thế nào về Số Mệnh cho đúng tinh thần triết học của Lý Dịch.

☯ Vậy Số Mệnh là gì ?

Định nghĩa :

Số trong phạm vi này có nghĩa là:

Một sự xác định trạng thái, hoàn cảnh nào đó trong một giai đoạn diễn biến của thời gian và không gian.

Mệnh (mạng) trong phạm vi này có 2 nghĩa là:

– Thứ nhất là chuỗi nối dài.

– Thứ hai là bản thân của con người được đề cập tới.

Số Mệnh: Là sự xác định trạng thái hoàn cảnh trong một giai đoạn diễn ra ở thời điểm nào đó của bản thân con người được đề cập tới.

Thí dụ:

– Lúc mới sinh ra ta được xác định là nam hay là nữ, ở châu Á hay châu Âu, con nhà giàu hay nghèo, thân xác khỏe mạnh hay bịnh tật, thông minh hay ngớ ngẩn?…………..

– Lúc trung niên ta được làm vai gì trong xã hội như: chủ, tớ, giàu nghèo, hạnh phúc đau khổ…….

Mà cuộc đời con người chúng ta là một chuỗi nối dài của nhiều giai đoạn được xác định như trên, nên một con người có rất nhiều số, gọi là vô số Số.

Thí dụ: Ai cũng phải có giai đoạn(số) làm người, làm con, làm chủ, làm tớ, làm người dân, làm người có tiền, làm người không có tiền, làm chủ nợ, làm con nợ, làm người đi xin, làm người bố thí, làm ác làm thiện……….

Lưu ý: làm chủ một công ty, hay làm chủ bản thân cũng là chủ, làm tớ cho một người hay làm tớ đồng tiền cũng là tớ………

☯ Lưu ý : Số Mệnh được hình thành từ hai yếu tố:

– Yếu tố khách quan: bị động, còn gọi là ngẫu nhiên.

– Yếu tố chủ quan: chủ động, còn gọi là tất nhiên, tất định.

☯ Định nghĩa cách khác về Số Mệnh: Số mệnh là một sự xác định giai đoạn diễn biến dài hoặc ngắn được tạo thành từ các yếu tố ngẫu nhiên và tất định.

Phân tích sự ảnh hưởng hòa trộn lẫn nhau của Ngẫu nhiên và Tất định.

*Yếu tố khách quan, bị động, ngẫu nhiên,được chia thành hai phần: âm và dương:

+ Sự lý của yếu tố này xảy ra vừa ý con người thì gọi là:

khách quan dương: – May mắn, hên, có thời vận tốt …

+ Sự lý của yếu tố này xảy ra ngược lại ý người thì gọi là:

khách quan âm: – Xui xẻo, xấu số, vận đen …

* Yếu tố chủ quan, chủ động, tất nhiên, được chia thành hai phần: âm và dương:

+ Tư tưởng và hành động của yếu tố này mang tính chất tích cực, vươn lên, phấn đấu, tinh tiến , thì gọi là :

chủ quan dương: – Lạc quan, yêu đời, có chí vươn lên …

+ Tư tưởng và hành động của yếu tố này mang tính chất tiêu cực, an phận, chấp nhận, thiếu nghị lực… thì gọi là:

chủ quan âm: – Bi quan, chán đời, thiếu ý chí…

Bốn trường hợp trên luôn luôn sinh phù hoặc khắc hại lẫn nhau và cùng hiện hữu chi phối trong mọi Số mệnh của con người theo tỷ lệ ít nhiều, biến thiên ẩn hiện, trước sau, căn nguyên lẫn nhau:

Thí dụ:

1/ Yếu tố khách quan dương hiện rõ, các yếu tố kia ẩn mờ:

– Được sinh ra với thân thể khỏe mạnh, thông minh, đẹp đẽ, gặp may mắn, thời vận tốt …

2/ Yếu tố khách quan âm hiện rõ, các yếu tố kia ẩn mờ:

– Được sinh ra với thân thể thiếu lành mạnh, ngu đần, khiếm khuyết, bịnh tật, gặp xui xẻo, thời vận xấu …

3/ Yếu tố chủ quan dương hiện rõ, các yếu tố kia ẩn mờ:

– Người có ý chí tự chủ, tự thân vươn lên học hỏi và thành đạt …

– Có công mài sắt có ngày nên kim.

4/ Yếu tố chủ quan âm hiện rõ, các yếu tố kia ẩn mờ :

– Người tự chủ lười biếng, nhút nhát, an phận thủ thường, không cầu tiến, không học hỏi …

5/ Yếu tố khách quan và chủ quan là căn nguyên lẫn nhau :

– Gieo gió gặp bảo.

– Ở hiền thì gặp lành.

– Ở hiền gặp ác.

– Cha ăn mặn con khát nước.

– Cờ tới tay ai người nấy phất.

– Thời thế tạo anh hùng.

– Anh hùng tạo thời thế

☯ Nhà Phật gọi là Luật Nhân Quả

6/ Yếu tố chủ quan dương và khách quan âm thiên thắng lẫn nhau :

– “Chữ tài liền với chữ tai một vần”.

7/ Yếu tố khách quan âm và dương thiên thắng lẫn nhau :

-“Tàn nhưng không phế”.

8/ Yếu tố khách quan dương và chủ quan âm thiên thắng lẫn nhau :

– Sung sướng quá sinh tệ.

– Cha làm thầy, con đốt sách.

9/ Yếu tố khách quan dương và chủ quan dương sinh phù lẫn nhau :

– Có cả Thiên cơ, thời cơ, nhân cơ nên mọi sự đều thành công.

☯ Vậy con người có biết được Số mệnh không ?

Ai trong chúng ta cũng đều biết Số mệnh cả (ở phần chủ động), nhưng để biết rốt ráo về Số Mệnh thì có rất nhiều khoa môn học thuật như: Kinh Dịch, Tướng Học, Tử Vi, Chỉ Tay, Phong Thủy, Chiêu Tinh, Bói bài, Triết Học…….. Sự thì muôn trùng trời biển, quy về chỉ có một Lý Biến Hóa Đồng Dị là cùng là hết.

Biến hóa có hai loại : Biến hóa đồng (giống, chung) và biến hóa dị (khác, riêng).

– Biến hóa đồng là : Muôn sự đều chung một lý biến hóa là thay đổi.

– Biến hóa dị là : Mỗi sự đều có riêng một lý biến hóa là thay đổi riêng theo kiểu của nó.

Thí dụ : – Cao su có sự biến hóa của cao su.

– Sắt có sự biến hóa của sắt.

Nên nói rằng : Sự nào thì có lý biến hóa đó, lý biến hóa nào thì có sự đó cũng như sự nào thì lý đó, lý nào thì sự đó, hoặc “lý nào thì tượng đó, tượng nào thì lý đó”.

Từ đó các môn học thuật của con người, khi nghiên cứu và biết cái lý của mỗi sự và dùng lý mà luận về sự nên đều biết được Số mệnh cả.

Trong mỗi cái biết về Số mệnh nào cũng đều có giống và khác nhau cả, thí dụ như : có lúc biết chi tiết, có lúc biết bao quát, lúc biết nhiều, lúc biết ít và có lúc biết không biết …

☯ Người biết Số mệnh có can thiệp được phần nào vào Số mệnh không ?

Vì Số mệnh là có cả khách quan và chủ quan chi phối lẫn nhau nên người biết Số thường nương theo yếu tố khách quan mà hành động nên nói rằng :

“Thuận thiên hành đạo” là vậy.

Thuận Thiên là chiều theo tính lý biến hóa đồng dị gọi là Lý Dịch vốn là một yếu tố khách quan lớn nhất chi phối muôn loài vạn vật, vì mọi thứ đều phải bị Biến Hóa Thay Đổi Đổi Thay theo Lý Dịch. (Thiên là thiên biến, thay đổi)

Hành Đạo là ta chủ động hành xử để đi trên đại lộ thênh thang của Tạo Hóa, vốn có nhiều hướng để chúng ta lựa chọn và chủ động can thiệp ít nhiều đến Số Mệnh.

Vậy người biết Số có thể chủ động can thiệp gia giảm vào hoàn cảnh xấu tốt của Số mệnh, nhưng chỉ ở mức giới hạn nào đó của yếu tố khách quan mà thôi.

“ Mọi ngẫu nhiên nào cũng có giải pháp của tất định.

Mọi hành động nào của tất định cũng có phần ảnh hưởng của ngẫu nhiên”.

Nên có người nói: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”

– “Mưu sự tại nhân mà thành sự tại thiên”

– “Tiểu phú do nhân mà đại phú do thiên”

☯ Chúng ta nên có nhận thức về Số Mệnh như thế nào? Để gọi là Giác ngộ – Giải thoát

Với hai yếu tố Ngẫu nhiên và Tất định là nền tảng cấu tạo nên hai chữ Số Mệnh như đã phân tích ở trên, thì bất cứ ai trong chúng ta đều không thể phủ nhận được là có Số Mệnh, tuy nhiên trong mỗi chúng ta có khác nhau về sự “nhận thức” về Số Mệnh.

– “Nhận thức” là chấp nhận(nhận) khi ta có sự hiểu biết (thức) rõ, lúc ấy ta hành động sẽ vững tâm và tự tin hơn, nên gọi là “Tri thiên mệnh rồi mới tận nhân lực: Biết số mệnh rồi mới ra hết sức người mà hành động”

– Ngược lại người không cần biết trước Số mệnh của mình như thế nào? Thậm chí không tin có số mệnh, cứ ra hết sức mình để làm đến cuối cùng thì mới biết kết quả thành hay bại lúc đó mới biết là Số mệnh của mình là như thế. Khi đó nếu thành công thì không nói làm gì, nếu thất bại thì đã tốn nhiều công sức và quá nhiều thời gian, gọi là “Tận nhân lực rồi mới tri thiên mệnh”

Với sự nhận thức “Tri thiên mệnh rồi mới tận nhân lực” cũng đồng nghĩa với sự Ý Thức được Số Mệnh là sự hiểu biết về Số Mệnh thì ta có một tầm nhìn, một quan điểm, một sự giác ngộ của Trí Tuệ trong đời sống hiện tại và tương lai, ta thật tự tin và giải thoát khi đối diện với thành công cũng như thất bại. Sống bình an, tự tại trước những biến động của cuộc đời.

Các bậc Siêu Nhân đều biết rất rõ Số Mệnh của chính bản thân mình và việc làm của họ sẽ đi về đâu, cũng như biết sứ mệnh của họ làm gì, và sau này đi về đâu. Tôi muốn nhắc đến những tấm gương của các bậc Siêu Nhân đó, để mong rằng trong mỗi chúng ta nên tìm hiểu môn khoa học nào để học hỏi để biết và nhận thức đúng về Số Mệnh không phải là mê tín (u mê, không hiểu biết mà tin theo) cũng như khi hiểu đúng về Số Mệnh thì ta có sự tự tin trong cuộc sống, cũng như biết mình phải làm gì?, đừng quá tham vọng mà trở thành thất vọng, đừng quá tự ti mà bi quan, đừng quá lạc quan thành chủ quan, mà phải hiểu biết để sống với tinh thần giải thoát trước mọi biến động vinh nhục của cuộc đời, đó mới là tư tưởng thượng đẳng của loài người.

Viết xong vào giờ Tiệm – Quan

THANH TỪ – DỊCH HỌC SĨ

Ý Nghĩa Lớn Từ Khóa Học “Thẩm Định Thông Tin” Cho Sinh Viên Uef

Khép lại khóa học News Literacy & Responsible Readers (Unitour), gần 40 sinh viên trường Trường Đại học Kinh tế – Tài chính thành phố Hồ Chí Minh (UEF) đã được trao chứng nhận hoàn thành xuất sắc khóa học. Với thời gian 2 tuần học tập trong đầu tháng 8, các bạn sinh viên UEF đã thu về vốn kỹ năng và kiến thức bổ ích cho việc học và cả đời sống.

TS. Đỗ Hữu Nguyên Lộc – Viện trưởng Viện quốc tế UEF tặng quà lưu niệm cho ông Matthew Ference – Trưởng phòng Văn hoá thông tin, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại chúng tôi

Bà Huỳnh Tịnh Hoài Nhân – Trưởng dự án News Literacy & Responsible Readers chia sẻ tại buổi lễ tổng kết khóa học

Ông Matthew Ference trao giấy chứng nhận cho các bạn sinh viên hoàn thành khóa học

Trước buổi tổng kết, các bạn sinh viên còn có dịp trao đổi về chuyên đề “Tin giả trong lĩnh vực kinh tế – tài chính” cùng Nhà báo Minh Thiên (Tạp chí Forbes).

Các nhóm sinh viên chia sẻ kiến thức được đào sâu qua bài tập thuyết trình sáng tạo

Thầy Phan Văn Tú – Trưởng Bộ môn Báo chí, Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chúng tôi đưa ra những góp ý cho bài thuyết trình của các sinh viên

Kết thúc khóa học, rất nhiều sinh viên đã có chia sẻ về sự đổi thay, cảm hứng đến từ lớp học, về hành trình bắt đầu trở thành người đọc có trách nhiệm hơn của người trẻ UEF.

Khóa học “Thẩm định thông tin” đã trở thành kỷ niệm đẹp với các sinh viên UEF sau 2 tuần đồng hành

News Literacy & Responsible Readers (Unitour) là dự án trang bị Kỹ năng “Thẩm định thông tin” dành cho sinh viên các trường đại học tại chúng tôi trong năm 2019. Mục tiêu dự án là giúp các bạn trẻ tăng cường kỹ năng phân tích, chọn lọc thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng, trở thành độc giả có trách nhiệm hơn, góp phần xây dựng cộng đồng News Literacy từ môi trường giáo dục đại học.

Tin và ảnh: Dự án News Literacy & Responsible Readers

Cụm Từ Cố Định: Phân Loại

Mặc dù có nhiều điểm giống nhau về nguyên tắc, nhưng cách xây dựng, tạo lập cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn như nhau. Vì thế, cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau có thể được phân loại khác nhau. Chẳng hạn, N.M. Shanskij (1985) đã phân loại các cụm từ cố định trong tiếng Nga hiện đại như sau:

Phân loại theo mức độ tính chất về ngữ nghĩa: tách ra 5 loại;

Phân loại theo đặc điểm các từ trong thành phần của cụm từ cố định: tác ra 4 loại;

Phân loại theo mô hình cấu trúc: tách ra 16 loại;

Phân loại theo nguồn gốc: tách ra 6 loại.

Việc nghiên cứu cụm từ cố định của tiếng Việt tuy chưa thật sâu sắc và toàn diện nhưng đã có không ít kết quả công bố trong một số giáo trình giảng dạy trong nhà trường đại học và tạp chí chuyên ngành.

Nếu tạm thời chấp nhận tên gọi mà chưa xác định ngay nội dung khái niệm của chúng, thì có thể tóm tắt một trong những bức tranh phân loại cụm từ cố định tiếng Việt như sau:

1. Thành ngữ

1.1. Định nghĩa

Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc/và gợi cảm.

Ví dụ: Ba cọc ba đồng, Chó cắn áo rách, Nhà ngói cây mít, Bán bò tậu ễnh ương, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Ông mất của kia bà chìa của nọ, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông,…

Các cụm từ cố định (thành ngữ) như thế đều thoả mãn định nghĩa nêu trên. Chúng là những thành ngữ điển hình.

1.2. Phân loại

Có nhiều cách phân loại thành ngữ. Trước hết, có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ.

1.2.1. Thành ngữ so sánh

Loại này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh. Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Cưới không bằng lại mặt,…

Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác:

A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ so sánh: như, bằng, tựa, hệt,…

Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ. Chúng có thể có các kiểu:

A.ss.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh. Ví dụ: Đắt như tôm tươi, Nhẹ tựa lông hồng, Lạnh như tiền, Dai như đỉa đói, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, Lừ đừ như ông từ vào đền,…

(A).ss.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có mặt. Nó thể xuất hiện hoặc không, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng toàn vẹn. Ví dụ: (Rẻ) như bèo, (Chắc) như đinh đóng cột, (Vui) như mở cờ trong bụng, (To) như bồ tuột cạp, (Khinh) như rác, (Khinh) như mẻ, (Chậm) như rùa,…

ss.B: Trường hợp này, thành phần A không phải của thành ngữ. Khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ nghi, nhưng nhất thiết phải có. A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ. Ví dụ:

Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: Như tằm ăn rỗi, Như vịt nghe sấm, Như con chó ba tiền, Như gà mắc tóc, Như đỉa phải vôi, Như ngậm hột thị,…

Đối với thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể nêu một vài nhận xét về cấu trúc của chúng như sau:

Vế A (vế được so sánh) không phải bao giờ cũng buộc phải hiện diện trên cấu trúc hình thức, nhưng nội dung của nó thì vẫn luôn luôn là cái được “nhận ra”. A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc trưng hoặc trạng thái hành động,… nào đó. Rất ít khi chúng ta gặp những khả năng khác.

Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như; còn những từ so sánh khác, chẳng hạn như tựa, tựa như, như thể, bằng, tày,… (Gương tày liếp, Tội tày đình, Cưới không bằng lại mặt,…) chỉ xuất hiện hết sức ít ỏi.

Vế B (vế để so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ cho A, mặt khác, nhiều khi nó lại chỉ bộ lộ ý nghĩa của mình trong khi kết hợp với A, thong qua A. Ví dụ: Ý nghĩa “lạnh” của tiền chỉ bộ lộ trong Lạnh như tiền mà thôi. Các thành ngữ Nợ như chúa Chổm, Rách như tổ đỉa, Say như điếu đổ, Say khướt cò bợ,… cũng tương tự như vậy.

Mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái,… được nêu ở B phản ánh khá rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc Việt. Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác, ta dễ thấy sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần ở đó.

Vế B có cấu trúc không thuần nhất:

B có thể là một từ. Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Nợ như chúa Chổm, Đắng như bồ hòn, Rẻ như bèo, Khinh như mẻ,…

B có thể là một kết cấu chủ-vị (một mệnh đề). Ví dụ: Như đỉa phải vôi, Như chó nhai giẻ rách, Lừ đừ như ông từ vào đền, Như thầy bói xem voi, Như xầm sờ vợ,…

Ngoài những điều nói trên, khi đối chiếu các thành ngữ so sánh với cấu trúc so sánh thông thường của tiếng Việt, ta thấy:

Các cấu trúc so sánh thông thường có thể có so sánh bậc ngang hoặc so sánh bậc hơn. Ví dụ: Anh yêu em như yêu đất nước (so sánh bậc ngang), Dung biết mình đẹp hơn Mai (so sánh bậc hơn),…

Từ so sánh và các phương tiện so sánh khác (chỗ ngừng, các cặp từ phiếm định hô ứng,…) được sử dụng trong các cấu trúc so sánh thông thường, rất đa dạng: như, bằng, tựa, hệt, giống, chẳng khác gì, y như là, hơn, hơn là,…

Một vế A trong cấu trúc so sánh thông thường có thể kết hợp với một hoặc hai, thậm chí một chuỗi nhiều hơn các vế B qua sự nối kết với từ so sánh. Ví dụ:

Kết hợp với một B: Cổ tay em trắng như ngà /Đôi mắt em liếc như là dao cau.

Kết hợp với một chuỗi B: Những chị cào cào (…) khuôn mặt trái xoan như e thẹn, như làm dáng, như ngượng ngùng.

Cấu trúc so sánh thông thường rất đa dạng, trong khi đó thành ngữ so sánh ít biến dạng hơn và nếu có thì cũng biến dạng một cách giản dị như đã nêu trên. Lí do chính là ở chỗ thành ngữ so sánh là cụm từ cố định, chúng phải chặt chẽ và bền vững về mặt cấu trúc và ý nghĩa.

1.2.2. Thành ngữ miêu tả ẩn dụ

Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ.

Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ so sánh không hề hiện diện. Cấu trúc bề mặt của thành ngữ loại này không phản ánh cái nghĩa đích thực của chúng. Cấu trúc đó, có chăng chỉ là cơ sở để nhận ra một nghĩa “sơ khởi”, “cấp một” nào đó, rồi trên nền tảng của “nghĩa cấp một” này người ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý nghĩa đích thức của thành ngữ.

Ví dụ: Xét thành ngữ ” Ngã vào võng đào“. Cấu trúc của thành ngữ này cho thấy:

– (Có người nào đó) bị ngã – tức là gặp nạn, không may;

– Ngã, nhưng rơi vào võng đào (một loại võng được coi là sang trọng, tốt và quý) tức là vẫn được đỡ bằng cái võng, êm, quý, sang, không mấy ai và không mấy lúc được ngồi, nằm ở đó.

Từ các hiểu cái nghĩa cơ sở của cấu trúc bề mặt nayf, người ta rút ra và nhận lấy ý nghĩa thực của thành ngữ như sau: Gặp tình huống tưởng như không may nhưng thực ra lại là rất may (và thích gặp tình huống đó hơn là không gặp bởi vì có lợi hơn là không gặp).

Căn cứ vào nội dung của thành ngữ miêu tả ẩn dụ kết hợp cùng với cấu trúc của chúng, có thể phân loại nhỏ hơn như sau:

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện. Trong các thành ngữ này, chỉ có một sự kiện, một hiện tượng nào đó được nêu. Chính vì vậy, cũng chỉ một hình ảnh được xây dựng và phản ánh. Ví dụ: Ngã vào võng đào, Nuôi ong tay áo, Nước đổ đầu vịt, Chó có váy lĩnh, Hàng thịt nguýt hàng cá, Vải thưa che mắt thánh, Múa rìu qua mắt thợ,…

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng. Ở đây, trong mỗi thành ngữ sẽ có hai sự kiện, hai hiện tượng được nêu, được phản ánh. Chúng tương đồng hoặc tương hợp với nhau (hiểu một cách tương đối). Ví dụ: Ba đầu sáu tay, Nói có sách mách có chứng, Ăn trên ngồi trốc, Mẹ tròn con vuông, Hòn đất ném đi hòn chì ném lại,…

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản. Ngược lại với loại trên, mỗi thành ngữ loại này cũng nêu ra hai sự kiện, hai hiện tượng tương phản nhau hoặc chí ít cũng không tương hợp nhau. Ví dụ: Các thành ngữ Một vốn bốn lời, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, Bán bò tậu ễnh ương, Xấu máu đòi ăn của độc,…

Bên cạnh việc phân loại thành ngữ tiếng Việt theo cơ chế cấu tạo và cấu trúc, còn có thể phân loại chúng theo số tiếng. Một nét nổi bật đáng chú ý ở đây là các thành ngữ có số tiếng chẵn (bốn tiếng, sáu tiếng, tám tiếng) chiếm ưu thế áp đảo về số lượng (xấp xỉ 85%). Điều này có cơ sở của nó. Người Việt rất ưu lối nói cân đối nhịp nhàng và hài hoà về âm điệu. Ngay ở bậc từ ta cũng thấy rằng hiện nay các từ song tiết (hai tiếng) chiếm tỉ lệ hơn hẳn các loại khác.

Và đến lượt mình, tỉ lệ 85% thành ngữ đó gây nên một áp lực về số lượng, khiến cho những cụm từ như: Trăng tủi hoa sầu, Tan cửa nát nhà, Tháng đợi năm chờ, Ăn gió nằm mưa, Lót đó luồn đây, Gìn vàng giữ ngọc,… nhanh chóng mang dáng dấp của các thành ngữ và rất hay được sử dụng.

2. Quán ngữ

Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc phong cách khác nhau. Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ.

Ví dụ: Của đáng tội, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói tóm lại, Kết cục là, Nói cách khác,…

Thật ra, tính thành ngữ và tính ổn định cấu trúc của quán ngữ không được như thành ngữ. Dạng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này. Chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi người ta quen dùng như một đơn vị có sẵn.

Có thể phân loại các quán ngữ của tiếng Việt dựa vào phạm vi và tính chất phong cách của chúng, như sau:

Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ: Của đáng tội, Khí vô phép, Khổ một nỗi là, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói dại đổ đi, Còn mồ ma, Nó chết (một) cái là, Nói (…) bỏ quá cho, Cắn rơm cắn cỏ, Chẳng nước non gì, Đùng một cái, Chẳng ra chó gì, Nói trộm bóng vía,…

Khó lòng có thể phân tích, phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng. Tuy nhiên, sự tồn tại của những đơn vị gọi là quán ngữ không thể bỏ qua được, và chức năng của chúng có thể chứng minh được không khó khăn gì. Tình trạng đa tạp và đầy biến động của các quán ngữ cũng như những đặc trưng bản tính của chúng, khiến cho ta nếu nghiêm ngặt thì phải nghĩ rằng: chúng đứng ở vị trí trung gian giữa cụm từ tự do với cụm từ cố định chứ không hoàn toàn nghiêng hẳn về một bên nào, mặc dù ở từng quán ngữ cụ thể, có thể nặng về bên này mà nhẹ về bên kia một chút hay ngược lại.

3. Ngữ cố định định danh

3.1. Tên gọi này chúng ta tạm dùng (vì nó chưa thật chặt về nội dung) để chỉ những đơn vị vốn ổn định về cấu trúc và ý nghĩa hơn các quán ngữ rất nhiều, nhưng lại chưa có được ý nghĩa mang tính hình tượng như thành ngữ.

Chúng thực sự là các cụm từ cố định, nhưng được tạo dựng theo cách gần như cách tạo những từ ghép mà người ta vẫn hay gọi là từ ghép chính phụ. Chẳng hạn: Quân sư quạt mo, Anh hùng rơm, Kỉ luật sắt, Tuần trăng mật, Con gái rượu, Giọng ông kễnh, Tóc rễ tre, Mắt ốc nhồi, Má bánh đúc, Mũi dọc dừa,…

3.2. Thực chất đó là những cụm từ cố định, định danh, gọi tên sự vật. Trong mỗi cụm từ như vậy thường có một thành tố chính và một vài thành tố phụ miêu tả sự vật được nêu ở thành tố chính. Nó miêu tả chủ yếu bằng con đường so sánh nhưng không hề có từ so sánh. Thành tố chính thường bao giờ cũng là thành tố gọi tên.

Con đường tạo dựng những cụm từ như: Lông mày lá liễu, Lông mày sâu róm, Mắt lá răm, Mắt ốc nhồi, Mắt lợn luộc, Mắt bồ câu, Mắt lươn,… gần như đồng hình với con đường tạo dựng các từ ghép: đen xì, đen sẫm, đen trũi, đen láy, đen nhánh, đen xỉn,…

Chính bởi vậy, ở đây có hai xu hướng chuyển di ngược chiều nhau và thâm nhập vào nhau. Một số thành ngữ so sánh bị khử từ so sánh dễ được nhập vào số những cụm từ kiểu này: Ngang cành bứa, Cay xé, Dẻo kẹo, Đen thui, Trẻ măng,… Ngược lại, một số cụm từ vốn được tạo ra theo kiểu này, nhưng vì tính thành ngữ, tính hình tượng đạt tới mức độ gần tương đương với các thành ngữ thực sự, lai rất có thể dễ được nhận vào hàng ngũ của các thành ngữ: Ví dụ: Tuần trăng mật, Kỉ luật sắt, Con gái rượu, Sách gối đầu giường, Hòn đá thử vàng, Bạn nối khố, Thẳng ruột ngựa, Toạc móng héo,…

3.3. Các ngữ cố định định danh thường tập trung với mật độ khá đậm ở khu vực tên gọi các bộ phận cơ thể con người như: Tóc rễ tre, Lông mày lá liễu, Lông mày sâu róm, Mắt lá răm, Mắt bồ câu, Mắt ốc nhồi, Râu ngạnh trê, Má bánh đúc, Mặt trái xoan, Mũi dọc dừa, Mồm cá ngão, Răng cải mả, Chân vòng kiềng, Chân chữ bát, Mặt lưỡi cày, Bụng cóc, Mình trắm,…

Một số ít hơn là tên gọi của các sự vật khác hoặc tên gọi của một trạng thái, thuộc tính. Chẳng hạn: Giọng ông kễnh, Đá tai mèo, Kỉ luật sắt, Gót sắt, Con gái rượu, Bạn áo ngắn, Sách gối đầu giường, Hòn đá thử vàng, Bạn nối khố, Cười cầu tài, Tấm lòng vàng, Bạn vàng, Toạc móng heo, Thẳng ruột ngựa,…

3.4. Cũng như tình trạng của quán ngữ, các cụm từ là ngữ cố định định danh có những biểu hiện không đồng đều nhau ở điểm này hoặc điểm khác. Rõ ràng là, nhìn chung, chúng ổn định cả cấu trúc lẫn ngữ nghĩa. Nhưng tính thành ngữ thì lại kém, thậm chí kém xa hoặc rất xa so với những thành ngữ chân chính. Tuy nhiên, chúng cũng không phải là từ ghép, nếu xét về bậc được cấu tạo. Chỉ có điều, việc cơ chế cấu tạo của chúng có phần giống với các từ ghép chính phục thì chúng ta phải thừa nhận.

Ở những mức độ khác nhau, chúng hiện diện như là đơn vị đứng giữa cụm từ cố định-thành ngữ với từ ghép.

4. Những hiện tượng trung gian

Mặc dầu vậy, chúng vẫn là những cụm từ có tính cố định. Chỉ có điều tính cố định đó cao hay thấp, nhiều hay ít mà thôi.

Có thể coi các cụm từ cố định tiếng Việt có vùng tâm và vùng biên, có đơn vị điển hình và đơn vị không điển hình. Thành ngữ chắc chắn thuộc vùng trung tâm.

Thế nhưng, ngay ở khu vực thành ngữ cũng có những đơn vị trung gian được cấu tạo theo lối thành ngữ nhưng tính tự do, kém ổn định vẫn còn rõ nét.

Có những đơn vị đã đạt được tính thành ngữ khá cao nhưng tính bền chắc, tính chỉnh thể về cấu trúc lại còn kém ổn định. Nghĩa là số thành tố cấu tạo nên chúng có thể còn tăng hay giảm được một cách tuỳ nghi.

Rất nhiều cụm từ cấu tạo theo kiểu thành ngữ so sánh, là như thế: Nhức như búa bổ, Đắt như vàng, Gầy như gọng vó, Buồn như cha chết, Hôi như chuột chù, Bẩn như hủi, Lôi thôi như ổ chó,…

Ngược lại, có những đơn vị khác, tính ổ định về cấu trúc khá bảo đảm, tức là không thể thêm bớt các thành tố cấu tạo một cách tuỳ nghi, nhưng tính thành ngữ, tính nhất thể về nghĩa vẫn chưa cao. Nghĩa của cả cụm từ vẫn là nghĩa được hiểu nhờ từng thành tố cộng lại. Ví dụ: Bàn mưu tính kế, Đi ra đi vào, Buôn gian bán lận, Suy đi tính lại, Nghĩ tới nghĩ lui, Gìn vàng giữ ngọc, Trăng tủi hoa sầu, Chân mây cuối trời, Than thân trách phận, Ăn thô nói tục, Yêu trẻ kính già,…

Những đơn vị như thế, đã, đang và chắc sẽ còn được tạo lập trong tiếng Việt. Đó là những sản phẩm được tạo ra trong đời sống hoạt động ngôn ngữ. Trả lời cho câu hỏi “Chúng có trở thành thành ngữ hay không?” thật là khó. Hẳn rằng còn phải qua thời gian, qua thực tế sử dụng, qua rất nhiều tác động của các nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ nữa,… mới có thể kết luận được.

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 153-165.

Giải Đáp Ý Nghĩa Đá Ruby Chi Tiết Theo Từng Mệnh

Đá Ruby rất tốt cho người mệnh thổ bởi vì Hỏa sinh Thổ, mọi vật bị đốt cháy sẽ hóa thành tro, bụi, đất, cát, khi đó hỏa của lửa sẽ sinh ra thổ của đất. Cho nên, người mệnh Thổ dùng những viên đá quý có màu của Hỏa (đỏ, hồng, tím) như Ruby, thạch anh tím.

2. Đá Ruby với người mệnh Hỏa có ý nghĩa gì?

Với những người có mệnh Hỏa, nên dùng Ruby đỏ là dùng đá có màu tương hợp. Hỏa có màu đỏ là màu chủ đạo, cũng là màu chủ đạo của đá Ruby. Vì vậy viên đá này sẽ luôn mang đến cho những chủ nhân mệnh Hỏa những điều tốt lành nhất về sức khỏe và sự nghiệp

Những người mệnh Thủy có thể chế khắc được Hoả (nước sẽ dập tắt được lửa), tức là người mệnh Thủy dùng các màu mà nó chế ngự được như màu đỏ, màu hồng, màu cam, màu tím. Như vậy Ruby đỏ cũng là loại đá phù hợp với người mệnh thủy để tăng thêm sự may mắn trong sức khỏe và sự nghiệp.

Những người mệnh kim là những người tinh tế và sâu sắc mang đến sự ấm áp và huyền bí với các sắc màu thuộc hành Thổ như vàng sậm, nâu đất sẽ bổ sung năng lượng và tiếp thêm sức mạnh chủ nhân. Thêm một sự lựa chọn nữa cho mệnh Kim là màu xanh lá cây tràn đầy sức sống của Mộc vì chỉ có Kim mới có thể chế khắc được Mộc…

5. Đá Ruby sử dụng cho người mệnh Mộc

Những người mệnh Mộc có tính cách nhạy cảm, hòa nhã và sáng tạo nên theo thuyết ngũ hành – “Thủy sinh Mộc” (hay Thủy dưỡng Mộc) vậy sắc màu tốt nhất với người mệnh này là màu xanh đen, xanh nước biển, xanh lam, xanh da trời của đá. Đá Ruby thuộc hành Kim mà Kim khắc Mộc (nghĩa là dao đốn chặt được cây) nên khi đeo trang sức với viên đá có màu sắc thuộc hành Kim có thể mang đến những điều chưa hoàn hảo cho chủ nhân.

Khi đeo trang sức phong thủy có gắn đá Ruby như: mặt nhẫn mặt Di Lăc đá Ruby, Tỳ Hưu đá Ruby, …sẽ mang đến cho chủ nhân nhiều hạnh phúc may mắn trong công việc.

Đá ruby có khả năng tăng cường sức khỏe cũng như giúp người mang giảm khả năng bị đau ốm, bệnh tật. Đeo đá Ruby có thể làm giảm các bệnh về tim, não, làm tăng thêm sức mạnh và trí nhớ của con người. Ngoài ra, nó còn giúp mang lại các nguồn năng lượng tích cực cho người sở hữu.

Ngoài ra, đá Ruby được xem là một biểu tượng của tình yêu, tượng trưng cho sự nồng nàn và lãng mạn. Chính vì vậy, nhẫn đá Ruby là một trong những ưu tiên cho các cặp vợ chồng nhân kỷ niệm 40 năm ngày cưới của mình.