Xu Hướng 2/2024 # Xá Lợi Phật Là Gì? Thần Lực Của Xá Lợi Phật Có Thật Không? # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Xá Lợi Phật Là Gì? Thần Lực Của Xá Lợi Phật Có Thật Không? được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Thanhlongicc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

VẤN: Con nghe rất nhiều bạn đồng tu nói về xá lợi Phật và của các thánh tăng cũng như sự mầu nhiệm của xá lợi Phật. Con không hiểu xá lợi Phật có từ đâu? Tại sao có người lại chết lưu lại xá lợi và có người thì không? Thần lực của xá lợi Phật là có thật không? Con nghe nói xá lợi nếu chú nguyện thành tâm có thể đạt được sự mầu nhiệm và xá lợi có thể sinh ra thêm, như vậy có đúng không? Ngược lại, con nghe nói nếu không thành kính với xá lợi sẽ bị tội và xá lợi có thể biến mất. Điều này có đúng không? Tại sao xá lợi lại có rất nhiều màu sắc và hình dáng khác nhau? Chúng con nên hành xử như thế nào để không bị tội trước xá lợi. Con xin cảm ơn Sư. Đáp:

Tín ngưỡng xá lợi có từ thời Đức Phật, tại các vùng thuộc Á châu, một xứ sở có nhiều tôn giáo đặc thù, huyền bí linh thiêng, nhất là thời kỳ Phật hành đạo và sau khi Phật nhập niết bàn. Người Phật tử ngày nay từ đông bán cầu đến tây bán cầu thường nghe nói đến xá lợi, chiêm ngưỡng xá lợi, rước xá lợi, cung nghinh xá lợi, đảnh lễ xá lợi, tôn thờ xá lợi, xây tháp cúng dường xá lợi Phật.

Có câu:

Phật tại thế thời con ngã trầm luân

Phật nhập diệt con mới được thân người

Tủi phận thân con nhiều tội chướng

Bùi ngùi chẳng thấy đặng kim thân

Người tín ngưỡng xá lợi Đức Phật tự nghĩ rằng: Phật giáng thế thì ta vô minh; Phật tịch diệt thì ta mới được sanh ra, nên tín ngưỡng tôn thờ xá lợi Phật xem như Phật hiện tiền.

Xuất xứ:

Nói đến xá lợi, xưa người ta chỉ nghĩ đến xá lợi của Đức Phật mà thôi. Cho đến khi Phật pháp được lan tỏa khắp hoàn cầu, người Phật tử tín ngưỡng thêm xá lợi chư Thanh văn A la hán đại đệ tử của Đức Phật. Ngoài ra còn có những vị Thánh Tăng và các vị Đạo Sư tu hành đạo cao đức cả, chư tôn đức Pháp chủ, Tăng chủ, Tông chủ, các bậc Thầy tổ sau khi thị tịch đem làm lễ trà tỳ, các đệ tử cũng thâu được nhiều phần tinh thể của các vị còn lại gọi là xá lợi. Tất cả những đồ dùng thuộc di tích của Phật và các vị Thánh Tăng như pháp y, bình bát, chuổi tràng, tích trượng, v.v. hoặc răng, móng, tóc của các bậc đạo sư Phật giáo đang hành đạo, lúc tuổi niên cao lạp trưởng ban cho đệ tử tôn thờ đều gọi là xá lợi. Hiện nay ở Myanmar, người ta còn thờ tóc và móng tay của Đức Phật khi sanh tiền đã cắt cho Bạc Lệ Ca, Da Lễ Phù Ba, hai vị đệ tử tại gia đầu tiên. Trong kinh tạng Nam tông Phật giáo thường đề cập đến “xá lợi xương, xá lợi răng và ngọc xá lợi…” (Trường A Hàm, phẩm Đức Phật nhập niết bàn, quyển 1)

Cách đây 2.558 năm, Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng ta thị hiện sanh ra trong công viên Lâm Bi Ni, cung vua Tịnh Phạn, mẹ là Hoàng hậu thánh mẫu Ma Ya trị vì vương quốc Ca Tỳ La Vệ. Năm 29 tuổi xuất gia bên dòng sông A Nô Ma, 6 năm tu khổ hạnh tại Khổ Hạnh lâm cạnh dòng sông Ni Liên, 35 tuổi thành đạo dưới cây Tất Bát La gần thủ phủ Gaya ngày nay. Trải một thời gian dài 45 năm hoằng hóa đạo mầu, từ đông sang tây, từ Tibet đến Afghanistan, từ Hy Mã Lạp Sơn đến Ấn Độ Dương, đến khi niết bàn tại Câu Thi Na, chư đệ tử đem nhục thân thiêu hóa và còn tồn tại những tinh hoa như tủy, xương, thịt v.v… được 8 vương quốc khắp vùng Bắc Á thời bấy giờ tôn thờ, như:

1/. Vua nước Chiêm Bà,

2/. Dân chúng dòng Bạt Ly thuộc nước La Phả,

3/. Dân chúng dòng Bà la môn nước Tỳ Lưu Đồ,

4/. Dân chúng dòng Câu Lợi thuộc nước La Ma Già,

5/. Dân chúng dòng Thích Ca nước Ca Tỳ La Vệ,

6/. Dân chúng dòng Ly Xa thuộc nước Tỳ Xá Ly,

7/. Dân chúng dòng Ly Xa thuộc nước Câu Thi Na,

8/. Vua A Xà Thế của nước Ma Kiệt Đà.

Tháp thứ chín thờ cái bình, tháp thứ mười thờ tro hài cốt, và tháp thứ mười một thờ tóc Phật khi Ngài còn tại thế gian. Đặc biệt, Phật đản sanh, xuất gia, thành đạo, nhập Niết bàn đều vào ngày tám tháng hai (Trường A Hàm, phẩm Đức Phật nhập niết bàn, quyển 1, trang 119-234 – Toàn Không)

Kinh Đại Bát Niết Bàn diễn tả rằng sau lễ trà tỳ, Xá Lợi của Đức Phật được chia làm tám phần và phân chia cho đại diện của tám nước đem về tại quốc gia họ. Nhưng hơn 200 năm sau đó, khi hoàng đế A Dục thống nhất toàn thể lãnh thổ xứ Ấn và trở thành một vị vua Phật tử hộ đạo, vua A Dục đã gom tất cả Xá Lợi ở tám nơi và chia thành 84.000 phần, đựng trong 84.000 tháp báu nhỏ ban bố khắp các nước.

Lợi ích của tôn thờ xá lợi:

Xá lợi là những hạt nhỏ, có dạng viên tròn, hình thành sau khi thân thể của người tu đắc đạo được đem hỏa táng. Xá lợi còn có nghĩa là những hạt nhỏ trông giống ngọc trai hay pha lê, được tìm thấy trong tro hỏa táng của một số vị cao tăng Phật giáo mà khoa học hiện đại chưa giải thích được nguyên lí hình thành của các hạt xá lợi này. Tuy nhiên, theo các bậc đạo sư phái Thiền, Tịnh, Luật, Mật của Phật giáo thì xá lợi là kết quả của quá trình tu hành và khổ luyện và là kết quả của quá trình tu dưỡng đạo đức, chỉ xuất hiện ở những người có tấm lòng đại từ đại bi, luôn thể hiện trí tuệ minh triết, mang lại lợi ích cho cả nhơn thiên. Đây là các bảo vật của thế giới Phật giáo, của Tăng Ni, Phật tử. Sự tín ngưỡng và tôn thờ xá lợi giúp cho người Phật tử thăng tiến trên đường tu, có người tôn thờ xá lợi, tín ngưỡng xá lợi Phật như tôn thờ Đức Phật sanh tiền, nên các vị rất tinh tấn tu hành và thêm phần phước huệ rất cao cả.

Khi chiêm bái cùng một viên ngọc xá lợi, nhiều người đã thấy các màu sắc khác nhau, tùy theo nghiệp nặng nhẹ của mỗi người. Tương truyền ngọc xá lợi của Đức Phật có thể biến hóa từ ít thành nhiều, từ nhỏ thành lớn, từ đục thành trong, và tỏa sáng hào quang. Sự biến hóa kỳ diệu này phải do sự thành tâm lễ bái chí thành của người có đạo tâm. Ngài Hư Vân kể rằng: Khi ngài tới lễ xá lợi của Đức Phật tại chùa A Dục, càng lễ thì hào quang từ xá lợi càng lúc càng tỏa rạng. Cũng nhờ thành tâm lễ bái xá lợi mà ngài hết bịnh.

Vào thế kỷ thứ VI, Phật Pháp mới truyền vào Trung Quốc, có hai Ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan từ Trung Ấn sang để truyền bá Phật Pháp. Lúc ấy có Đạo sĩ Chữ Thiện Tín ở núi Ngũ Nhạc không hài lòng, dâng biểu lên nhà vua xin cho thi tài với hai Ngài. Họ để kinh sách của Lão giáo ở đàn phía đông và kinh Phật cùng xá lợi để trên Thất bảo hành điện ở phía tây. Xong rồi hai bên thi triển thần thông đốt kinh sách. Kinh bên Đạo giáo thì cháy, còn kinh Phật thì vẫn nguyên. Lúc ấy xá lợi năm màu chiếu sáng, bay lên hư không, xoay tròn như che trùm cả đại chúng. Vua cùng đại chúng đều hoan hỉ, được điều chưa từng có.

Đời Tam quốc, Ngô Tôn Quyền chưa tin Phật Pháp nên đã chất vấn Ngài Khương Tăng Hội: Sa môn các ngài tu hành theo Phật giáo có những điềm linh ứng gì? Ngài trả lời rằng: “Tuy Phật đã nhập diệt lâu rồi, nhưng xá lợi của Ngài lưu lại vẫn hiển hiện bao điềm linh diệu”. Ngô Tôn Quyền không tin, buộc Ngài phải cầu cho được xá lợi thì mới cho phép kiến lập Tháp Tự, nếu không được sẽ bị trị tội. Vì sự tồn vong hưng thịnh của Phật Pháp, Ngài cùng đại chúng đã đặt một bình đồng trên toà cao, chí thành khẩn cầu xá lợi hiển hiện oai linh. Đến ngày thứ hai mươi mốt, xá lợi đã xuất hiện trong bình chiếu sáng năm màu rực rỡ. Ngô Tôn Quyền tự tay cầm lấy bình chứa xá lợi đổ lên mâm đồng. Hạt xá lợi vừa rơi xuống thì mâm đồng liền bị bể tan. Ngô Tôn Quyền cho để xá lợi lên đe bằng sắt và dùng búa đập. Chỉ thấy đe lún xuống và xá lợi vẫn tỏa hào quang sáng ngời. Thấy điềm linh dị rõ ràng, Ngô Tôn Quyền mới có niềm tin trong Phật Pháp.

Riêng xá lợi răng và xương của Đức Phật thì không có sự biến hóa ít thành nhiều, do vậy bảo tháp thờ xá lợi răng và xương rất hiếm, riêng tháp thờ ngọc xá lợi thì nhiều. Nói chung, tất cả các xá lợi đều có một vai trò quan trọng đối với chúng ta, vì xá lợi là báu vật biểu trưng như Đức Phật còn tại thế. Nếu chúng ta dùng tâm vô nhiễm, cung kính lễ bái, cúng dường, tán thán thì được phước đức vô lượng vô biên. Xá lợi không chỉ là nhân tố tạo nên mọi sự phước đức mà còn là động lực chuyển xoay tâm hồn con người từ hung dữ trở thành hiền lương, từ vô đạo đức trở thành có đạo đức.

Phật tử Việt Nam và các nước tôn thờ xá lợi từ các bậc đại sư tôn túc:

Phật giáo thế giới có viên xá lợi được nhắc nhở và tôn sùng, đó là xá lợi lưỡi của Ngài Cưu Ma La Thập được truyền tụng đến nay gần 2.000 năm.

Cưu Ma La Thập dịch nhiều Kinh từ Phạn ra tiếng Tàu, khoảng 98 Kinh, nay thất lạc chỉ còn độ 50 Kinh. Ngài là người nước Dao Tần, ngày nay gọi là Tân Cương. Cha Ngài là người Ấn Độ, mẹ là công chúa nước Dao Tần. Ngài dịch nhiều Kinh Phật nhất, nên có lời nguyện: Nếu Kinh Ngài dịch ra không sai chánh pháp thì khi lâm chung xin lưu lại chiếc lưỡi để làm chứng tích. Kết quả, Ngài được như ý.

Ngày mùng 01 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), Phật Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, vâng theo di chúc, Bảo Sát đã tiến hành hỏa thiêu Ngài ngay tại Am Ngọa Vân. Pháp Loa, tổ thứ hai của Thiền Phái Trúc Lâm đến tưới nước thơm lên giàn hỏa, thu được ngọc cốt và hơn 3.000 viên ngọc xá lợi. Ngọc cốt được an trí vào lăng Quy Đức (hay còn gọi là Đức Lăng), một phần xá lợi thu được lưu giữ tại tháp Phật Hoàng ở Ngọa Vân, phần còn lại được đưa về lưu giữ tại Bảo tháp chùa Tư Phúc trong Đại Nội (cấm thành Thăng Long), sau đó được phân thành nhiều phần lưu giữ ở nhiều nơi để nhân dân và phật tử thờ phụng.

Năm 1964, bị tai nạn chiến tranh, Sư tản cư xuống núi tá túc ở chùa Linh Quang, Gia Định đi học. Đến ngày mùng 10 tháng Chạp năm Giáp Thìn, chùa thiết lễ cúng húy kỵ Đại sư Huệ Nhựt – Trưởng giáo phái Đạo Phật Khất sĩ Đại thừa đã viên tịch. Hòa thượng Trụ trì Thích Phổ Thượng (một trong 10 vị đệ tử của Đại sư) đem những phần xá lợi của Đại sư cho đại chúng chiêm ngưỡng. Đó là lần đầu tiên lúc còn làm Sa di Sư được chiêm ngưỡng xá lợi xương của vị Trưởng Giáo phái Khất sĩ Đại thừa.

Năm 1973, khi Thượng tọa Thích Giác Đồng về Quan Âm tu viện tu tịnh, được nghe Thượng tọa kể lại khi Sư Trưởng lão Trưởng giáo đoàn Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam Thích Giác An viên tịch, lúc trà tỳ còn lại nhiều viên xá lợi, trong đó có một viên xá lợi màu trắng trong như lưu ly, tôn thờ tại tịnh xá Trung Tâm, Phú Lâm.

Ngày 15/02/Đinh Mùi (1967), sau khi cải táng nhục thân Đức Pháp chủ Khánh Anh tại An dưỡng địa, Phú Lâm, Đại đức Thích Liên Phương, húy Như Lý, hiệu là Bạch Vân là vị đệ tử cuối cùng của Đức Pháp chủ, có đem một ít xá lợi xương của Đức Pháp chủ về tôn thờ tại tịnh thất Bảo Tạng – Quan Âm tu viện cho đến ngày nay. Đại Đức Thích Liên Phương là người có công lớn trong việc sáng lập Phật học đường Tây Phương Bồng Đảo tại Tổ đình Linh Sơn núi Dinh, Bà Rịa năm 1961. Hòa Thượng Giác Quang (lúc còn làm Sa di) năm 1964 đã tốt nghiệp hạng Nhất đồng hạng với Sư Từ Pháp tại Phật học đường.

Ngày 11/06/1963, Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa ngã tư đường Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng để bảo vệ Phật giáo. Sau khi tự thiêu, nhục thân được hỏa táng lại nhưng trái tim của Hòa Thượng thì không cháy và vẫn còn nguyên, về sau được đặt trên một bình pha lê tôn trí tại chùa Xá Lợi. Giới Phật tử coi đây là một điều thiêng, một biểu tượng xá lợi trái tim của lòng trắc ẩn và tôn vinh Hòa Thượng thành một vị Bồ tát.

Pháp sư Hoằng Huyền, Singapore, Hòa Thượng Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Ngũ Đài Sơn; Pháp sư Khoang Năng, Trụ trì chùa Tây Sơn, Trung quốc viên tịch gần đây cũng để lại hàng chục vạn viên xá lợi trong như lưu ly và màu xanh lục. Pháp sư Viên Chiếu, Trụ trì chùa Pháp Hoa, tỉnh Thiểm Tây viên tịch lúc 93 tuổi, trà tỳ còn lưu lại trái tim.

Ngày 20/10/Quý Tỵ (2013), Hòa Thượng Thích Thiện Lực, Trụ trì chùa Phổ Tịnh (môn phong Tịnh độ Non bồng), ấp Bình Thảo, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai viên tịch, thiêu hóa được nhiều xá lợi màu xanh lục, môn nhơn pháp quyến cúng dường tôn thờ tại chùa Phổ Tịnh và Quan Âm tu viện.

Ngày nay, không chỉ riêng trong nhà chùa trà tỳ chư tôn túc Tăng Ni viên tịch có xá lợi, mà trong giới Phật tử phát tâm tu hành ăn chay trường, niệm Phật, tụng kinh đại thừa, tu hành tinh tấn, khi lâm chung đem thiêu hóa cũng tồn tại một số phần xương cốt, những viên xá lợi đủ màu sắc… Sự việc nầy đã làm dấy lên làn sóng thờ xá lợi trong chốn thiền lâm trong và ngoài nước cũng như tại gia trung của Phật tử.

Tôn thờ xá lợi tại Quan Âm tu viện

Năm 1969, tại Quan Âm tu viện, Sư được diện kiến, đảnh lễ, tôn thờ và giữ gìn xá lợi. Chỉ có 2 hạt tại tịnh thất Bảo Tạng, nơi Đức tôn sư Thiện Phước – Nhựt Ý sanh tiền lưu trú và thuyết giảng nhiều nhất dành cho chư Tăng Quan Âm tu viện và môn phong về pháp tu niệm Phật cầu sanh Tịnh độ.

Ngày mùng 02 tháng 06 năm Canh Tuất (1970), trời đổ mưa nhiều, Sư hứng nước giữa trời mưa bằng một chén sứ sạch, đem xá lợi Phật thử “thật hay giả”, nếu “thật” thì nổi trên mặt nước, “giả” thì chìm. Lạ thay xá lợi tôn thờ tại tịnh thất Bảo Tạng như có chất “dầu” nổi trên mặt nước. Ngọc xá lợi thờ ở tịnh thất Bảo Tạng do nhà sư Anando được Giáo hội cử đi du học nước Sri Lanka cung thỉnh đem về cúng dường Quan Âm tu viện. Sư Anando viên tịch năm 2001, nhà chùa phụng thờ Sư tại Tổ đình Linh Sơn chân núi Dinh.

Từ năm 2.000, đón chào thiên niên kỷ mới, tại Quan Âm tu viện, Ni trưởng Thích nữ Huệ Giác, chư Tăng Ni nhận được nhiều sự phát tâm cúng dường xá lợi đức Phật từ Phật tử Bình Dương, Tp.Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, các nước Myanmar, Ấn độ, Mỹ, Úc…

Lễ rước xá lợi ngày 15/07/Canh Dần (2010) thật quy mô, hoành tráng, dưới sự hướng dẫn của Hòa Thượng Giác Quang, chư Tăng Ban Nghi lễ lo lập bàn hương án tại trung tâm Quan Âm tu viện, tiếp đến trải một lớp đệm, chiếu trải lên đệm, vải vàng trải lên chiếu từ bàn hương án đến nơi tôn thờ xá lợi khoãng 120 mét, vị Sư Thiện Thanh đi đầu cầm kiểng dẫn đường, kế đến vị Sư Vạn Hùng bưng khai lễ, Thầy Thiện Lễ xướng ngôn, Sư Quảng Đại, Sư Định Chơn chuông trống bát nhã, Hòa Thượng Giác Quang tiếp nhận xá lợi từ tay Phật tử Tâm Huệ, Ngọc Hoa dâng cúng, chầm chậm bước đi, đi theo sau là chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử cả trăm vị, mỗi người đều niệm danh hiệu: Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Vương Bồ tát… Khi đến nơi khai lễ đựng xá lợi được tôn trí lên bàn, Hòa Thượng nói ý nghĩa xá lợi, tôn thờ xá lợi, cảm tạ công đức Phật tử cúng dường xá lợi. Tiếp đến Hòa Thượng chủ trì lễ an vị xá lợi, đảnh lễ xá lợi, chiêm ngưỡng xá lợi. Cuộc lễ rước xá lợi diễn biến từ 8 giờ sáng đến 11 giờ 30 trưa mới chấm dứt, sau đó là lễ cúng dường trai phạn chư Tăng Ni.

Người Phật tử cần có sự tín ngưỡng chân chính, gọi là chánh kiến, chánh tư duy, nhìn thấy xá lợi răng, tóc, móng của Phật, hay các di vật của chư thánh Tăng, Thầy Tổ, tỏ lòng tôn kính phụng thờ, đó là xá lợi. Có chánh nghiệp thì không ngụy tạo xá lợi theo tri kiến phàm phu để hướng dẫn mọi người tín ngưỡng thì việc tôn thờ xá lợi có ích lợi, tăng phước tăng huệ. Sự tôn thờ xá lợi thuộc về tín ngưỡng tâm linh đối với Đức Phật của Bạn, các Bạn tin có xá lợi thì xá lợi xuất hiện và xuất hiện thật nhiều vô số với các Bạn; ngược lại thì dù có xá lợi xương cốt thật của Phật Thích Ca Mâu Ni đi nữa cũng không linh ứng gì Bạn ạ!

HT Thích Giác Quang

Xá Lợi Phật Là Gì? Cách Nhận Biết Xá Lợi? Lợi Ích Cúng Dường Và Chiêm Bái Xá Lợi Phật

Việc thờ phượng và chiêm bái Xá-Lợi Phật đã được phổ biến đến Phật tử Việt Nam rất lâu. Xá-Lợi Phật là phần di thể còn lại sau lễ hỏa táng nhục thân của một bậc vĩ nhân đã sanh ra trong hoàng tộc Sākya: Thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta). Ngài đã từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp, con thơ, lên đường tầm cầu giải thoát, đã thanh lọc mọi ô nhiễm trong tâm và trở thành bậc hoàn toàn giác ngộ, sau đó đã tận tụy 49 năm dìu dắt chúng sanh thoát qua biển khổ trầm luân của hiện hữu.

Với lòng từ bi vô lượng, Ngài đã để lưu lại Xá-Lợi ở thế gian này sau khi viên tịch Niết Bàn để cho chúng sanh đời sau còn có duyên may chiêm bái và cúng dường. Vì thế, Xá-Lợi Phật là bằng chứng hùng hồn nhất về sự hiện diện của Ngài và ý nghĩa của sự xuất hiện ấy không ngoài mục đích giúp cho chúng sanh đoạn tận mọi khổ đau, thành tựu cứu cánh giải thoát Niết Bàn, không còn luân hồi sanh tử.

Xá lợi được phiên âm của từ “sarira”, nghĩa đen là “những hạt cứng”. Danh từ Xá Lợi không phải là xa lạ đối với người Á Châu. Người con Phật vẫn thường nghe nói đến Xá Lợi, và của chư Tổ. Không phải ai cũng có đủ duyên lành được chiêm ngưỡng.

Xá Lợi là sự kết tinh kỳ diệu của sự thành đạt tâm linh, của sự phát triển tột cùng của hạnh từ bi và trí tuệ. Xá Lợi có những hình dạng như những viên ngọc trai hay đá quí nhiều màu sắc, long lanh như ngọc, rắn như kim cương, búa đập không vỡ, lửa thiêu không cháy, thu nhặt được sau lễ trà tỳ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, các bậc Thánh đệ tử và các vị Đại Sư.

Theo ghi chép trong lịch sử Phật giáo, khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch, hàng đệ tử làm lễ trà tỳ. Sau khi lửa tàn, họ phát hiện trong tro có rất nhiều tinh thể trong suốt, hình dạng và kích thước khác nhau, cứng như thép, lóng lánh và tỏa ra những tia sáng muôn màu, giống như những viên ngọc quý. Họ đếm được cả thảy 84.000 viên, đựng đầy trong 8 hộc và 4 đấu. những vật thể đó được đặt tên là Xá lợi, là bảo vật của Phật giáo.

Có thể nói hầu hết đệ tử của đức Phật từ hàng xuất gia đến tại gia đều có Xá lợi sau khi hỏa táng. (ngoại trừ người đó mắc bệnh tiểu đường, ung thư…) Kích cỡ và màu sắc cũng có khác nhau, nhưng có chung một điểm là: “Chẳng phải kim loại, chẳng phải phi kim, cũng chẳng phải kim cương đốt không cháy, thậm chí vẫn sáng lấp lánh màu sắc, thách thức với thời gian, chẳng mảy may hư hỏng”.

Những năm gần đây, lịch sử Phật giáo và giới khoa học đã ghi lại khá nhiều trường hợp các vị cao tăng sau khi viên tịch, hỏa thiêu đã để lại xá lợi. Tháng 12/1990, Hoằng Huyền pháp sư ở Singapore viên tịch, sau khi thi thể được hỏa thiêu, người ta phát hiện thấy trong phần tro của ngài có 480 hạt cứng, loại cỡ như hạt đỗ tương, loại nhỏ bằng hạt gạo, trông gần như trong suốt và tỏa sáng lấp lánh như kim cương. Sau khi phân tích, các nhà nghiên cứu đã xác định rằng đó chính là xá lợi.

Tháng 3/1991, Phó hội trưởng Hội Phật giáo Ngũ Đài Sơn, ủy viên thường vụ Hội Phật giáo Trung Quốc, sau khi viên tịch đã được hỏa táng theo tâm nguyện của ngài. Trong tro có tới 11.000 hạt xá lợi, đạt kỷ lục thế giới từ trước đến nay về những trường hợp xá lợi được ghi nhận chính thức.

Viên xá lợi có thể to như quả trứng vịt, đó là trường hợp của pháp sư Khoan Năng, vị trụ trì Tây Sơn Tẩy Thạch Am ở huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 27/9/1989, ngài viên tịch ở tuổi 93. Sau khi hỏa thiêu, người ta tìm thấy trong tro hài cốt 3 viên xá lợi màu xanh lục, trong suốt, đường kính mỗi viên lên tới 3-4 cm, tựa như những viên ngọc lục bảo.

Trường hợp Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu vào ngày 20 tháng 4 năm Quý Mão tức ngày 11 tháng 6 năm 1963 sau khi thiêu còn trái tim, người ta đã dùng lửa đến 4.000 độ, xương thịt cháy tiêu hết. Duy chỉ có trái tim của Ngài vẫn còn nguyên, được thiêu lần thứ hai vẫn không cháy. Trần Quang Tuyến tìm cách hủy trái tim này trước sự chứng kiến của nhiều người để dập tắt niềm tin của Tăng Ni Phật tử cả nước. Tuyến đã dùng axit đổ vào trái tim của Hòa thượng Thích Quảng Đức, tuy nhiên, đổ vào bao nhiêu axit cứ trôi đi bấy nhiêu, không thẩm thấu vào được. Ông Diệm đã mời các nhà khoa học Mỹ đến tìm cách phá hủy trái tim này. Người Mỹ đã dùng hồ quang điện (lửa hàn), thứ nóng nhất mà họ có, để đốt trái tim. Tuy nhiên, ngọn lửa nhiều ngàn độ C xanh lét, làm tan chảy cả sắt cũng không đốt cháy được trái tim lạ kia. Những nhà khoa học Mỹ lúc đó mới tin vào sức mạnh bất diệt của Phật giáo. Đốt không được, phá hủy không xong. Một trái tim bất diệt!

Tháng 6/1994, pháp sư Viên Chiếu, 93 tuổi, trụ trì chùa Pháp Hoa (núi Quan Âm, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc) trong một buổi giảng kinh tối đã nói với các đệ tử: “Ta sẽ để lại trái tim cho chúng sinh”. Sau đó vị sư nữ này ngồi kiết già và viên tịch.

Sau khi ngọn lửa tắt, trái tim vẫn còn mềm, nóng, rồi mới nguội dần và cứng lại, biến thành một viên xá lợi lớn, màu nâu thẫm. Khoảng 100 đệ tử có mặt trong lễ hỏa táng đã tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ lùng đó.

Ngoài ra các đệ tử còn thu được 100 viên xá lợi to nhỏ khác nhau. Có viên thì hình tròn (xá lợi tử), có viên lại nở xòe ra như những bông hoa (xá lợi hoa). Những bông xá lợi hoa trông rất đẹp, lóng lánh như những bông hoa tuyết, chung quanh còn được giát bằng những hạt xá lợi nhỏ cỡ hạt gạo, sắc đỏ, vàng, lam, nâu… hết sức kỳ diệu.

Khoa học chưa giải thích được Xá lợi.

Gần đây, giới khoa học bắt đầu tìm cách giải thích những hiện tượng huyền bí được nhà Phật nói đến trong kinh điển. Thế nhưng khi bắt tay vào nghiên cứu hiện tượng xá lợi, họ đã gặp không ít trở ngại.

Phương Tây, người ta không tin là có xá lợi Phật Tổ. Mãi đến năm 1997, ông Peppé người Pháp khi tiến hành khảo cổ tại vùng Piprava, phía nam Népal, đã tìm thấy những viên xá lợi đựng trong chiếc hộp bằng đá. Trên hộp có khắc những văn tự Brahmi, nội dung như sau: “Đây là xá lợi của đức Phật. Phần xá lợi này do bộ tộc Sakya, nước Savatthi phụng thờ”. Khám phá này đã chứng minh: Những gì được ghi trong kinh Trường A Hàm và một số kinh sách khác về việc phân chia xá lợi đức Phật thành 8 phần cho 8 quốc gia cổ đại khi Phật nhập Niết bàn là có thật. Điều kỳ lạ là trải qua hơn 25 thế kỷ, xá lợi đức Phật vẫn còn nguyên vẹn, lấp lánh màu sắc.

Về sự hình thành của những viên xá lợi, cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau. Các nhà xã hội học cho rằng, do thói quen ăn chay, thường xuyên sử dụng một khối lượng lớn chất xơ và chất khoáng, quá trình tiêu hóa và hấp thu rất dễ tạo ra các muối phosphate và carbonate. Những tinh thể muối đó tích lũy dần trong các bộ phận của cơ thể và cuối cùng biến thành xá lợi.

Tuy nhiên, giả thuyết này không đủ sức thuyết phục. Bởi lẽ số người ăn chay trên thế giới có tới hàng trăm vạn, nhưng tại sao không phải ai khi hỏa táng cũng sinh xá lợi? Số người theo đạo Phật cũng nhiều vô kể, thế nhưng tại sao trong cơ thể những tín đồ bình thường lại không có xá lợi?

Một số nhà khoa học cho rằng, có thể xá lợi là một hiện tượng có tính bệnh lý, tương tự như bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi mật… Giả thuyết này cũng khó đứng vững. Bởi vì, sau khi đưa xác đi thiêu, trong phần tro của những người mắc các chứng bệnh kể trên không hề phát hiện xá lợi. Mặt khác, những cao tăng có xá lợi thường sinh thời thường rất khỏe mạnh, tuổi thọ cũng rất cao.

Nhà Phật cũng có những quan điểm riêng về vấn đề xá lợi. Quan điểm thứ nhất cho rằng xá lợi là kết quả của quá trình tu hành và khổ luyện. Quan điểm thứ hai cho rằng đó là kết quả của quá trình tu dưỡng đạo đức, chỉ xuất hiện ở những người có tấm lòng đại từ đại bi, luôn làm việc thiện.

Tuy nhiên, cuối cùng thì xá lợi đã được hình thành như thế nào? Thành phần của nó ra sao? Chẳng phải kim loại, chẳng phải phi kim, cũng chẳng phải kim cương, lục bảo, chỉ là tro cốt còn lại của người tu hành sau khi hỏa táng; vậy mà sao đốt không cháy, thậm chí vẫn sáng lấp lánh màu sắc, thách thức với thời gian, chẳng mảy may hư hỏng…? Hàng loạt câu hỏi như vậy cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp.

Ích lợi gì cho những người chiêm bái?

Vì là kết tinh của sự thành đạt tâm linh, nên, như lời dạy của Lạt Ma Zopa Rinpoche, “mỗi phần nhục thân và Xá Lợi của các Ngài chứa đựng một năng lực mầu nhiệm có thể làm căn lành tăng trưởng và nghiệp ác giải trừ”. Vì thế, Xá Lợi có năng lực cảm hóa tâm người, phát triển lòng bác ái trong nội tâm của những ai có cơ duyên được chiêm bái Xá Lợi. Phật đã từng dạy rằng có bốn nơi chốn đặc biệt: “nơi ta được sanh ra, nơi ta giác ngộ, nơi ta thuyết pháp và nơi ta nhập diệt. Sự thăm viếng một trong bốn nơi chốn này giống như sự gặp gỡ với chính bản thân ta.” Vậy thì khi chiêm ngưỡng Xá Lợi cũng tương tợ như thế.

Cho nên, những viên Xá lợi là tinh cốt còn lưu lại có công năng thù thắng, giúp tăng trưởng các điều lành thiện và tiêu trừ những điều xấu ác. Chỉ cần thành tâm, chúng ta có thể cảm nhận được năng lực mầu nhiệm của Xá Lợi.

Trong Kinh Sư Tử Hống, đức Phật dạy: “Dù là bây giờ, cúng dường Như Lai, hay là mai sau, cúng dường Xá lợi, công đức tích tụ, ngang bằng như nhau, và quả gặt hái ngang bằng như nhau.”

Dù trong hiện tại chúng ta không đủ phước duyên để diện kiến đức Phật, nhưng cũng vẫn có đầy đủ thiện duyên để gặp được Xá lợi Phật cùng Phật pháp. Vậy mặc dù đức Phật không thị hiện ngay trước mặt chúng ta với sắc tướng quen thuộc của Ngài, chúng ta có thể thấy được Xá lợi Phật và vẫn còn có thể đạt giác ngộ.

Nên cúng dường Xá lợi như thế nào?

Cúng dường Xá lợi có ba cách:

1. Cúng dường tài vật, như tịnh tài, hoa, đèn, thực phẩm và thức uống.

2. Cúng dường tấm lòng kính ngưỡng tôn kính chư Phật bằng cách quét dọn nơi có Xá lợi, đảnh lễ cúng dường mạn đà la, xây tượng Phật và bảo tháp.

3. Cúng dường công phu hành trì: sống thuận theo chánh pháp, mở tấm lòng vị tha biết quan tâm cho người khác hơn bản thân, hay ít ra cũng khát khao cố gắng để được như vậy.

Nên nghĩ gì khi đến chiêm bái Xá lợi

Khi đến một nơi có Xá lợi, quan trọng nhất là đừng xem đây chỉ như một viện bảo tàng. Phải thấy Xá lợi chính là hiện thân của Phật và cũng là hiện thân của tất cả mọi tánh đức cao quí của đấng giác ngộ. Và dòng ánh sáng trắng rót xuống đỉnh đầu, tất cả ác nghiệp thân miệng ý kết thành khói đen, hay thành nước đục, và bị tống ra khỏi thân thể qua các lỗ chân lông.

Chúng ta nên đến trước Xá lợi, quán tưởng có luồng ánh sáng rót xuống đỉnh đầu của mình và chúng sinh, thấy tật bịnh cùng tất cả những gì làm giảm hại sức khỏe kết lại thành mũ máu và bị tống ra khỏi thân thể từ hai gót chân.

Chiêm bái Xá lợi lúc tâm bất an

Gặp việc phiền não trong gia đình hay bạn bè gây gỗ, chúng ta có thể đến chiêm bái Xá lợi, đi nhiễu quanh Xá lợi (đi quanh theo chiều kim đồng hồ). Quán tưởng các bậc thiện thệ giải thoát, nhờ siêng năng đoạn khổ đau, không chấp trước, luôn hỷ xả nên hình thành xá lợi. Nay con nguyện học theo hạnh đó xem phiền não: bò cạp, cóc, rắn rít…con cần phải tránh xa. Đồng thời cầu nguyện cho chúng sinh đang bị phiền não tác hại cũng nương theo đó mà được thanh tịnh. Thay vì than thân trách phận, tìm quên ở rượu chè nghiện ngập, phương pháp quán tưởng này sẽ giúp chúng ta đừng quá chú trọng đến bản thân, dùng khổ đau của chính mình làm động cơ thúc đẩy việc tu hành.

Khi bị chứng nghiện ngập

Hãy nhìn nhận là mình đang có vấn đề, nhớ lại tánh đức của Phật để phát tâm quy y, mong mình có được mọi tánh đức của Phật. Trong khi đi nhiễu quanh Xá lợi, quán tưởng dòng ánh sáng cam lồ trắng từ Xá lợi rót vào đỉnh đầu mình, thấy các loài rắn rết nhện sên (biểu hiện sự nghiện ngập) được tống ra khỏi thân thể, của mình và của chúng sinh. Rồi thấy mình đã thật sự được thanh tịnh hóa. Luyện tâm như vậy cho thật thuần thục để thắng cơn nghiện, rồi sẽ có lúc mùi rượu sẽ khiến chúng ta cảm thấy khó chịu.

Vì sao phải đảnh lễ và đi nhiễu quanh Xá lợi

Tôi một lòng kính lễ quí vị, và cầu mong quí vị nên đi nhiễu, đảnh lễ Xá lợi Phật. Làm như vậy để nhận lực gia trì của chư Phật, điều này thật quan trọng. Vì lợi ích của chúng sinh mà chư Phật phát tâm bồ đề; vì lợi ích của chúng sinh mà chư Phật bước trên con đường tu; và cũng vì lợi ích của chúng sinh mà chư Phật thị hiện giác ngộ viên mãn. Vì lý do này, chư Phật và Xá lợi Phật vô cùng mầu nhiệm, vẫn còn đó đầy đủ năng lực gia trì. Hiểu như vậy thì sẽ nhận được lực gia trì rất mãnh liệt. Cho dù tâm không định cũng vẫn có thể nhờ Xá lợi mà nhận được lực gia trì. Nhờ hiểu lý lẽ này, chúng ta có thể mau chóng giác ngộ. Cho dù không hiểu nhiều, chiêm bái Xá lợi cũng sẽ là nhân tố thành tựu đạo nghiệp trên bước đường tu tập và hướng đến giải thoát giác ngộ.

Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng chánh giác!

Kính lễ Tăng, người thừa chí cả, thay Thế Tôn truyền bá đạo mầu!

Tìm Hiểu Về Xá Lợi Phật

Trong một chuyến du lịch đến Hồng Kông, lần đầu tiên tôi nhìn thấy những viên đá kỳ lạ ở trong phòng tối của viện bảo tàng. Nó nằm trong pho tượng Phật bằng đồng và bao quanh bởi kính chống đạn. Nó được đặt trang trọng trong những chiếc chén vàng và nền nhung, những viên ngọc sáng bóng.

Nheo một mắt, tôi có thể nhìn thấy những gì trông giống như những tinh thể màu rất đẹp. Sau đó, trong bữa trưa chay ở tu viện liền kề, tôi có hỏi mọi người về những viên ngọc đó. Nhưng tiếc rằng không có người bạn nào của tôi biết nhiều về nó. Tuy nhiên, sự quan tâm của tôi về những “viên ngọc của con người” đã được khêu gợi.

Ngọc xá lợi là gì?

Xá lợi hay xá lị (sarira – sharira) là một từ vay mượn từ tiếng Phạn, ban đầu có nghĩa là “thân thể”, nhưng khi được sử dụng trong các văn bản Phật giáo nó có nghĩa là “di vật”. Thuật ngữ ringsel là một từ vay mượn từ tiếng Tây Tạng. Cả hai thuật ngữ này đều nói về những viên ngọc xá lợi, mặc dù theo một số giải thích, ringsels là một tập con của sariras.

Ban đầu khi nhắc đến xá lợi, người ta thường nghĩ đến xá lợi của Đức Phật Thích Ca. Về sau, một số nhà sư, những vị thầy đáng kinh sau khi chết cũng đã để lại những viên ngọc kỳ lạ này. Đây được cho là biểu hiện trình độ tâm linh của các vị tu sĩ Phật giáo.

Xá lợi là những hạt nhỏ được tìm thấy sau khi thân thể của các vị tu sĩ được hỏa táng. Tại Hàn Quốc, những mảnh xương không bị cháy được đặt sang một bên để nghiền nhỏ, trộn với bột rồi rải xuống đất hay dòng sông. Tuy nhiên, một số viên đá kỳ lạ được gọi là xá lợi nổi bật như những viên ngọc trai, hổ phách hoặc tinh thể màu sẽ được giữ lại.

Thật thú vị, dường như những viên xá lợi không thuộc về cơ thể, nó không phải là xương hay xác thịt! Thay vào đó, ngọc xá lợi được xem như là sự chưng cất cuối cùng của một đời sống Phật giáo sống động, một sự biểu lộ vật chất của đạo đức, trí tuệ và lòng tận tụy.

Người ta tin rằng, vẻ đẹp của các hạt xá lợi phụ thuộc vào mức độ chứng ngộ mà các bậc thầy đã đạt được. Các viên ngọc xá lợi thường được trưng bày trong một cái bát, chén thủy tinh hoặc tòa tháp bằng vàng nhỏ cũng như được trang trí bên trong bức tượng của các cao tăng đã qua đời.

Trong một số trường hợp đặc biệt, hạt xá lợi được cho là phát triển từ cơ thể người sống, thường là ở đỉnh cao của một kinh nghiệm tôn giáo.

Ví dụ, một tu sĩ Tây Tạng có tên là Choying Dorje Rinpoche đã dành 45 năm để hành thiền về tình yêu và niềm vui. Vào cuối đời, khoảng 2.000 viên ngọc xá lợi được cho là xuất hiện trên tóc của ông ấy.

Tùy thuộc vào phần nào của cơ thể mà xá lợi phát triển, màu sắc và kích cỡ có thể khác nhau, mỗi cái có một cái tên truyền thống khác biệt.

Giống như bất kỳ di vật tâm linh khác, rất nhiều câu chuyện huyền bí đã được chia sẻ xung quanh nó. Ngọc xá lợi được biết đến như một viên ngọc bí ẩn nhất thế giới. Nó có thể lớn hơn hoặc nhỏ đi tùy thuộc vào sự tinh khiết của người đang giữ nó. Các Phật tử tin rằng, khi được đặt trên đầu, ngọc xá lợi có khả năng chữa lành bệnh tật và thanh lọc cơ thể.

Giả thuyết về sự hình thành xá lợi

Theo TS. Đỗ Kim Cường được chia sẻ trên báo Công an chúng tôi hiện có ba giả thuyết về sự hình thành các hạt xá lợi là:

Sức mạnh tinh thần, trí tuệ và lòng từ bi của các bậc cao Tăng kết thành xá lợi sau khi chết

Thói quen ăn chay trường trong nhiều năm và ngồi thiền hấp thụ năng lượng vũ trụ

Bệnh lý

Tuy nhiên, các giả thuyết này gặp nhiều phản biện như: Tại sao nhiều vị cao Tăng khác cũng ngồi thiền, ăn chay…mà không có xá lợi khi hỏa táng?

Điều này đã được hé lộ khi ba nhà vật lý Holden, Phakey và Clement thuộc đại học Monash, bang Victoria, Úc, thực hiện các nghiên cứu.

Trong quá trình hỏa táng, các tinh thể hình dạng khác nhau sẽ được hình thành nếu hỏa táng ở nhiệt độ thích hợp. Trên tạp chí Khoa học pháp y quốc tế số tháng 6/1995, họ cho biết đã dùng kính hiển vi điện tử quét để theo dõi quá trình tinh thể hóa xương đùi của những người từ 1 tới 97 tuổi trong dải nhiệt độ 200 – 1.600°C trong khoảng thời gian 2, 12, 18 và 24 giờ.

Kết quả là sự tinh thể hóa các khoáng trong xương (chiếm 2/3 trọng lượng xương) bắt đầu xuất hiện từ nhiệt độ 600°C với nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu, lục giác, hạt nhỏ và hình dạng không đều.

Các hạt nhỏ đó có thể kết tinh thành các khối lớn hơn trong khoảng 1.000 – 1.400°C. Và khi nhiệt độ đạt tới 1.600°C, các khối tinh thể bắt đầu tan rã. Như vậy, nếu điều kiện hỏa táng thích hợp, xá lợi có thể xuất hiện do quá trình tinh thể hóa các khoáng vốn có rất nhiều trong xương người.

Vậy tại sao người bình thường không có xá lợi? Chúng ta có thể trả lời bằng cách hỏi ngược lại: Vậy tại sao không phải vị cao Tăng nào cũng có xá lợi? Câu trả lời là nếu nhiệt độ hỏa táng ban đầu khoảng 600°C, sau đó tăng lên 1.000°C, nhiều khả năng các khối tinh thể sẽ xuất hiện, miễn là nhiệt độ không quá cao.

Như vậy việc hình thành xá lợi có thể là sự kết hợp của cả ba giả thuyết: ăn chay và ngồi thiền; sỏi bệnh lý; và sự tinh thể hóa xương khi điều kiện hỏa táng phù hợp. Theo TS. Cường, đây là giả thuyết thuyết phục nhất mà chúng ta có hiện nay.

Góc nhìn khoa học về ngọc xá lợi

Tất nhiên, những người hoài nghi đã đưa ra rất nhiều giải thích khoa học về xá lợi. Chúng có thể chỉ là những khoáng chất tự nhiên tích tụ trong cơ thể con người (như sỏi mật hay sỏi thận) mà chúng ta thường không quan tâm đến việc tìm kiếm trong lò hỏa táng. Hoặc chúng có thể là cấu trúc tinh thể hình thành theo các điều kiện nung nóng dưới nhiệt độ cao.

Có bằng chứng cho thấy, trong một số điều kiện nhiệt độ, xương người có thể hình thành cấu trúc tinh thể. Ngọc xá lợi được cho là xuất hiện sau khi hỏa táng, vì vậy, đây có thể là cơ chế mà chúng được tạo ra. Trong một phân tích hóa học, xá lợi bao gồm các thành phần của xương và đá, nhưng cũng có tóc, thịt và máu kèm theo.

Nhà vật lí thuộc Đại học Stanford, William A. Tiller và một nhóm các nhà nghiên cứu khác đã tìm hiểu về nguồn năng lượng xung quanh các hạt xá lợi.

Nisha J. Manek đã báo cáo nghiên cứu tại “Hội thảo về Khoa học Tâm thức” thường niên tại Đại học Arizona vào năm 2012. Tiến sĩ Manek đã hoàn thành chương trình đào tạo đặc biệt tại Đại học Stanford. Bà là một nhà khoa học lâu năm, và là thành viên của khoa y học Mayo trước khi bắt đầu công việc của mình tại Viện nghiên cứu khoa học thần kinh của Tiller.

Manek không phải là một tín đồ Phật giáo đã giải thích những gì mà bà cảm nhận khi tiếp xúc với ngọc xá lợi:

“Tôi cảm thấy một bức xạ hữu hình của năng lượng tinh tế chảy từ các viên xá lợi hướng đến trung tâm trái tim tôi. Nó mang tính cá nhân và riêng tư, nhưng nó cho thấy một sự “Nhất thể” hay đồng nhất với mọi người và vạn vật. Không có thứ gì tương tự như vậy trong các trải nghiệm thông thường.”

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp do Tiller phát triển để đo lường một cách khách quan những gì mà Manek cảm nhận. Họ muốn biết chắc nguồn năng lượng đó xuất phát từ các hạt xá lợi hay chỉ là một nhận thức chủ quan của Manek.

Giáo sư Tiller đã nghiên cứu các tác động vật lý có thể ảnh hưởng đến ý thức con người. Ông cho rằng, có hai loại vật chất. Một là loại chúng ta có thể đo lường với các cảm biến thông thường của chúng ta. Ông mô tả chất này ở cấp độ nguyên tử điện / phân tử. Loại kia tồn tại trong không gian giữa các nguyên tử và phân tử.

Con người thường không thể cảm nhận được loại vật chất thứ 2 mà Tiller mô tả là có trạng thái năng lượng khí động lực học cao và vô cùng mạnh mẽ. Tiller nói rằng, ông đã tìm ra cách để phát hiện ra chất này, nhưng chỉ khi nó giao thoa hoặc tương tác với các loại nguyên tử điện / phân tử chúng ta có thể nhận biết và đo lường. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng xảy ra vì hai chất này thường tồn tại tách biệt.

Ý đồ của ông là kích hoạt một loại vật chất trung gian được gọi là hạt deltrons. Các deltron sẽ tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa hai loại vật chất này.

Nghiên cứu của Tiller và Manek về ngọc xá lợi cho thấy, những di vật này đã bị ảnh hưởng bởi ý nghĩ của con người.

Mặc dù chúng tôi không thể nghiên cứu chi tiết các vật thể để có thể đưa kết luận chính xác. Nhưng dường như có một loại năng lượng nào đó tương tác qua lại giữa xá lợi và con người.

Trong trường hợp của xá lợi Phật trải qua hàng ngàn năm, lòng tôn kính đã giữ nó tồn tại, nếu không, có thể di vật sẽ biến mất.

Báo cáo cũng cho biết, các phân tử, nguyên tử trong không gian xung quanh các hạt xá lợi được sắp xếp chặt chẽ hơn môi trường bình thường.”

Các nghiên cứu của GS Tiller và bác sĩ Manek cho thấy, hạt xá lợi có thể tồn trữ một năng lượng nhất định và có thể ảnh hưởng đến người thờ phượng, nhưng nguồn năng lượng này một phần cũng có thể là do người thờ phượng truyền sang chúng.

Ngọc xá lợi vẫn còn là một bí ẩn. Có vẻ như việc hỏa táng của những người bình thường không để lại những hạt kỳ lạ như vậy. Ngày nay, Các trang mua bán trên mạng tràn ngập những vật được cho là xá lợi được bán với giá chỉ 10 đô la. Một tổ chức Phật giáo đã bán bộ sưu tập xá lợi với giá 4.000 USD để duy trì hoạt động.

Lợi ích khi chiêm bái và tôn thờ xá lợi

Theo nhiều bậc đạo sư thì xá lợi là kết quả của quá trình tu hành khổ luyện nhiều năm. Những bậc cao Tăng có tấm lòng từ bi vĩ đại cũng như trí tuệ minh triết mới kết tụ thành xá lợi.

Do đó, Phật tử nào có dịp chiêm bái hay thỉnh xá lợi về tôn thờ sẽ giúp ích rất nhiều trên con đường tu tập. Xá lợi được cho hiện thân của chư Phật, của các bậc cao Tăng nên Phật tử tôn thờ xá lợi sẽ nhìn đó mà noi gương tu hành tinh tấn.

Ngoài ra, khi thỉnh xá lợi về nhà để tôn thờ thì không gian nhà sẽ hấp thụ được nguồn năng lượng vô cùng tích cực và bình an từ viên xá lợi lan tỏa ra. Gia chủ, vợ chồng con cái trong nhà đều hòa thuận, mạnh khỏe và yên vui.

Theo nhiều người kể lại, các viên ngọc xá lợi có thể biến hóa thành nhiều màu khác nhau, từ nhỏ thành lớn, đục trành trong khi đem về nhà thờ một khoảng thời gian. Sự biến hóa kỳ diệu này được nhiều người tin rằng đến từ sự thành tâm lễ bái cũng như tinh tấn tu tập của gia chủ.

Ngôi chùa có nhiều viên xá lợi nhất Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam ta, ngôi chùa tôn thờ nhiều viên ngọc xá lợi nhất là chùa Viên Đình ở xã Đông Lỗ, Ứng Hòa, Hà Nội. Đây được xem là bảo tàng xá lợi Phật và thánh Tăng lớn nhất và độc đáo nhất Việt Nam, với hơn 30 ngọn tháp chứa đựng hàng ngàn viên xá lợi do nhiều trung tâm Phật giáo trên thế giới trao tặng.

Mỗi tháp chứa hàng chục đến hàng trăm xá lợi to nhỏ khác nhau, từ xá lợi máu, xá lợi tóc, xá lợi xương… của các vị cao tăng Phật pháp, với nhiều xuất xứ khác nhau đến từ 8 quốc gia trên thế giới. Trong đó phải kể đến viên xá lợi quý hiếm của Phật Thích Ca được thỉnh từ Nepal do Hòa thượng Thích Huyền Diệu cúng dường.

Theo lời trụ trì Thích Chơn Phương, xá lợi là hiện thân kỳ diệu của Đức Phật và các vị cao tăng đắc đạo, nơi nào có xá lợi thì đất đai ở đó màu mỡ, cây cối tươi tốt, dân chúng no ấm, đủ đầy. Tùy theo công phu tu tập và sinh khí mỗi vùng mà các hạt xá lợi mang màu sắc khác nhau. (Theo btgcp.gov.vn).

Nguồn gốc xá lợi Phật

84.000 di vật trong đó có nhiều viên xá lợi được tìm thấy sau khi hỏa táng thân thể của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Năm 259 TCN, vua Asoka (A Dục Vương) thống nhất các quốc gia láng giềng và xem Phật giáo là tôn giáo chính. Ông tổ chức Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ 3 để thu thập, biên tập và xuất bản các giáo lý của Đức Phật.

Ông cũng quyết định đưa các di vật và xá lợi Phật đến các khu vực khác nhau trong và ngoài nước để phổ biến Phật giáo trên toàn thế giới.

Vào năm 240 TCN, một nhóm gồm 18 nhà sư và các tín đồ đã mang 19 phần di vật đến Trung Quốc. Trong hành trình của họ, Đức Phật trong hình thái tinh thần của mình đã nói với họ rằng họ phải giấu các di vật đi, và chỉ để lộ sau khi người Trung Quốc chấp nhận Phật giáo. Các nhà sư sau đó theo hướng dẫn và chôn các hạt xá lợi Phật trong “ngôi mộ thiêng liêng”.

Họ đến Trường An và gặp Tần Thủy Hoàng. Thật không may, họ bị cáo buộc là “gây rối loạn trong quần chúng và âm mưu phá hoại vương triều”. Triều đình đã đốt tất cả các kinh điển và xử lý chúng như rác.

Sau đó, một vị tướng trên trời (Vajra trong tiếng Phạn) đột nhập vào nhà tù và giải cứu 18 người. Họ quyết định chia thành bốn nhóm và truyền bá đạo Phật trong bí mật theo bốn hướng với thủ đô Trường An là trung tâm.

Họ hẹn gặp nhau hàng năm tại “ngôi mộ thiêng liêng” vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, tức là ngày sinh của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Các nhà sư báo cáo, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm của họ trong việc giảng dạy Phật Pháp.

Các nhà sư chỉ có thể truyền dạy giáo pháp bằng miệng vì các kinh điển đã bị tiêu hủy. Cuối cùng, cái chết của họ đã kéo theo bí mật về “ngôi mộ thiêng liêng” cất giấu những viên xá lợi Phật. Phật giáo đã không thể đạt được một nền tảng vững chắc ở Trung Quốc tại thời điểm đó. Những viên xá lợi chỉ được tìm thấy vài trăm năm sau khi Phật giáo được chấp nhận tại quốc gia rộng lớn này.

Ngày nay, nhiều Phật tử từ Đông cho đến Tây bán cầu thường chiêm ngưỡng xá lợi, rước xá lợi, cung thỉnh xá lợi, đảnh lễ xá lợi và xây tháp cúng dường xá lợi Phật để bày tỏ lòng tôn kính.

Ý Nghĩa Xá Lợi Phật

18/10/2024 01:23

3307

Ý NGHĨA XÁ LỢI PHẬT

LỜI NÓI ĐẦU

       Tôi viết bài “ý nghĩa Xá Lợi Phật” qua một nhơn duyên do các Phật tử trong và ngoài nước viết thư xin giảng giải về Xá Lợi Phật, nghi thức cung nghinh, an vị, thờ phượng… nhìn chung là tôn kính Xá Lợi Phật, những gì tồn tại về kim thân của Phật, báo thân Phật. Hội nhập vào cuộc đời, Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân. Pháp thân theo quan niệm của Nam tông Phật giáo thuộc về kinh sách, giới luật Phật; Báo thân thuộc về Xá Lợi kim thân Phật, thân quả báo tu hành đắc đạo, sau khi thiêu hóa còn lại tro tàn, xương hay ngọc Xá Lợi; Ứng hóa thân Phật thuộc về thân ứng hiện độ đời, do có công đức, tu đắc đạo khi thiêu hóa còn tồn lại xương cốt được đem tôn thờ…

       Xá Lợi Phật xưa ít khi được phổ biến vì là gia bảo hay quốc bảo nên được giữ gìn rất cẩn trọng. Tuy nhiên, hiện nay qua nhiều cuộc binh biến thay thiên đổi địa của các nhân chủ, thiên chủ nên Xá Lợi Phật gần như đã bị mai một một cách có hệ thống. Ngoài Xá Lợi Phật thật trên đất Ấn Độ, còn lại các quốc gia khác như Srilanka, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia… đều là “Xá Lợi niềm tin”.

      Dù chúng ta có nhận định Xá Lợi thật hay Xá Lợi niềm tin cũng là Xá Lợi Phật hay của các vị Cao tăng, cũng đem lại sự tín ngưỡng đầy tâm huyết của những người con Phật. Hiện nay, họ quyết tâm dựng xây một nền văn hóa Phật giáo trong đó tôn thờ Xá Lợi Phật khắp năm châu bốn biển, thờ Xá Lợi Phật khắp nơi… Đó là sự tín ngưỡng Đức Phật vì Đạo pháp của Ngài đã từng được đem đến khắp trong nhân gian để cứu khổ muôn loài.

      Tập sách nhỏ nầy có 3 chương, chương thứ nhứt nói về “ý nghĩa Xá Lợi Phật” làm sáng tỏ việc tôn thờ Xá Lợi Phật, có sáng tỏ mới có niềm tin vững chắc; chương thứ hai nói về “Xá Lợi Phật”, tức là nói về Xá Lợi thật; chương thứ ba nói về “Xá Lợi niềm tin”, tức là không có Xá Lợi giả mà chỉ có Xá Lợi niềm tin. Mỗi chương có nhiều tiểu luận để giúp người đọc không nhàm chán, đồng thời biết được những Phật tử Việt Nam có nhiều tín tâm cúng dường Xá Lợi Phật.

      Khắp nguyện những người tin Phật, tín ngưỡng Xá Lợi sẽ được thành tựu sự nghiệp Phật pháp, sự nghiệp thế gian, khi thác sanh thiên, an ổn không còn tái sanh trong thế giới khổ đau, hưởng cảnh niết bàn tịch diệt.

Trọng thu năm Bính Thân (2024) HT Thích Giác Quang Ủy viên Ban Hoằng pháp TW GHPGVN

CHƯƠNG THỨ NHỨT

Ý NGHĨA XÁ LỢI

      Nói đến Xá Lợi Phật, trong giới Phật giáo có người hiểu cặn kẽ, có người hiểu sơ sài hoặc chưa hiểu ý nghĩa Xá Lợi là gì, thường thì chỉ có tín đồ Phật giáo mới tìm hiểu và tôn thờ Xá Lợi Phật. Trước đây, hiểu Xá Lợi Phật chỉ có tín đồ Nam tông là những người thường xuyên được quý Sư hướng dẫn cung nghinh, an vị, phượng thờ Xá Lợi như thờ Đức Phật sanh tiền. Phật giáo Nam tông rất tôn quý Xá Lợi Phật, chùa Nam tông tuy ít, nhưng trên ngôi Tam Bảo lúc nào cũng có tôn trí tháp Xá Lợi Phật được thờ rất trang nghiêm.

      Kể từ khi ngài Bùi Nguơn Hứa xây chùa Bửu Quang vào năm 1938, vị Trụ trì đầu tiên là ngài Hộ Tông, cũng là năm Phật giáo Nam tông được truyền thừa vào Việt Nam. Những ngôi chùa Nam tông Việt Nam thuộc di tích quy mô như chùa Kỳ Viên, chùa Kỳ Quang đệ nhứt, Kỳ Quang đệ nhị, Kỳ Quang đệ tam, Thiền Lâm Tự (Thích Ca Phật Đài), chùa Pháp Bảo, chùa Pháp Quang (Tp.Hồ Chí Minh), chùa Bửu Đức, Thiền viện Phước Sơn, chùa Quảng Nghiêm (Đồng Nai) có tôn thờ những phần Xá Lợi Phật được thỉnh từ các vương quốc Phật giáo Nam tông

      Kể từ năm 1950, Phật giáo Bắc tông bắt đầu thịnh hành, các cấp Giáo hội được thành lập như: Phật giáo Tăng già Nam Việt, Phật giáo Tăng già Trung Việt, Phật giáo Tăng già BắcViệt, Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Tăng già Khất sĩ, Hội Phật giáo Tịnh Độ tông Việt Nam, Giáo hội Thiền tông Việt nam, Giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tăng Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền, Thiền Tịnh Đạo Tràng…Tại trụ sở của các Giáo hội đều có thờ Xá Lợi Phật. Ngày nay sở dĩ việc tôn thờ Xá Lợi Phật trở nên phổ biến là do các bậc thiền gia chân chánh tu hành sau khi viên tịch đem trà tỳ có nhiều Xá Lợi và được các môn đệ thâu lấy đem nhập tháp tôn thờ.

      Các chùa Bắc tông hiện nay là nơi tôn thờ nhiều Xá Lợi, cung nghinh Xá Lợi Phật nhiều nhất. Tuy tôn thờ nhưng chỉ một số tín đồ hiểu biết về ý nghĩa Xá Lợi Phật, thờ Xá Lợi Phật, một số gia duyên bận buộc ít quan tâm, một số chưa thông hiểu việc cung nghinh, an vị, tôn thờ Xá Lợi Phật như thế nào…

I. Nguyên nhân nói ý nghĩa Xá Lợi Phật

      Nhân việc Quan Âm tu viện nhận nhiều sự tín tâm của các gia đình Phật tử Nam tông Phật giáo cúng dường Xá Lợi Phật và chư vị Cao tăng; theo yêu cầu học Phật pháp của các Phật tử, chúng tôi xin nói về ý nghĩa của Xá Lợi Phật, tại sao gọi là Xá Lợi Phật, tôn thờ Xá Lợi Phật như thế nào cho đúng, tín ngưỡng Xá Lợi Phật sao cho có phước huệ để học đạo giải thoát.

      Ngày 20 tháng 6 năm Đinh Dậu, Phật tử Ngọc Hằng (vị nữ Bác sĩ có truyền thống tín tâm, hộ trì Phật pháp và xiển dương giáo lý nhà Phật, giáo lý Tịnh độ Non bồng trên trang web chúng tôi tại Hoa Kỳ) đã góp nhặt những nghi vấn của Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước về việc tín ngưỡng Xá Lợi Phật, tôn thờ Xá Lợi Phật, Phật tử tu hành qua đời đem thiêu hóa còn tồn lại tro tàng có được gọi là Xá Lợi không? Nội dung câu hỏi Phật Pháp như sau:

      Con đọc kinh sách cho biết Xá Lợi là rất quý, vô cùng thiêng liêng và mầu nhiệm, Xá Lợi Đức Phật có năng lực bất khả tư nghì, đi đến đâu là mang lại điều an lạc, thịnh vượng đến đó. Nhưng hiện nay con thấy đâu đâu cũng có Xá Lợi, cứ xoay qua xoay lại là nghe tin một người nào đó đã được vãng sanh, thiêu tro cốt lại có Xá Lợi, hay là tu hành bệnh tật thế nào rồi thiêu hóa cũng có Xá Lợi nhiều màu rất đẹp. Con cũng được tặng Xá Lợi và thờ ở nhà. Con đang phân vân liệu có phải năng lực của Xá Lợi là vô cùng lớn như kinh sách nói không? Làm thế nào để biết đâu là Xá Lợi thật, đâu là Xá Lợi giả? Nếu thờ Xá Lợi trong nhà hay giữ Xá Lợi mà làm mất thì có bị mang tội hay không? Xá Lợi phải để trong tháp hay nên trang trí sắp đặt thờ ở đâu là đúng nhất? Vì sao Xá Lợi có thể nhân đôi sinh ra nhiều Xá Lợi khác? Ai mới đủ khả năng để thờ và lưu giữ Xá Lợi? Xá Lợi có giúp trừ tà ma không? Con xin cảm ơn Sư.

II. Nguyên nhân Xá Lợi Phật có trong thế gian

      Xá Lợi Phật có được trong thế gian là do phước báo của chúng sanh trong cõi Ta Bà phát tín tâm quy y Tam bảo, tu hành đúng theo giáo lý Phật, có chí hướng tầm cầu giải thoát những khổ đau về thân, phiền não về tâm trong cuộc đời. Từ sự tín tâm quy y đó mà Đức Phật Bổn Sư Thích Ca thị hiện trong hoàng cung dòng họ Thích, được đăng quang làm Hoàng Thái Tử tại Vương quốc Ca Tỳ La Vệ, năm 19 tuổi xuất gia tầm đạo, một lòng vì chúng sanh, khiến cho họ thoát khổ. Qua nhơn duyên nầy, Đức Phật Bổn sư chịu khó khổ hoằng đạo suốt 49 năm, đến năm 80 tuổi ngài thị hiện tịch diệt, chư đệ tử đem hỏa thiêu trà tỳ và kim thân Phật còn tồn lại phần tro cốt, thành những viên ngọc quý báu, con người trong thế giới Ta Bà gọi là Xá Lợi Phật, đó là Xá Lợi kim thân Phật, hay ngọc Xá Lợi Phật.

      Nói về Xá Lợi pháp thân Phật lại còn quý báu hơn, đó là khi Đức Phật thời còn sanh tiền, vào những thời điểm thích hợp, Đức Phật thuyết pháp hoặc quy định những điều luật quý báu cho con người trong nhân gian. Những bài giảng, lời giảng của Phật được lưu truyền trong nhơn gian giúp cho người cải ác tùng thiện, tu hành giải thoát, những kim ngôn ngọc ngữ đó gọi là “Pháp thân Xá Lợi”.

      Cụ thể những lời dạy, do ông tu sĩ cao tuổi Subhadda (Thuần Đà) thưa thỉnh: Bạch Đức Thế Tôn: ngòai giáo pháp của Đức Thế Tôn, còn có Lục sư ngọai đạo rất đông tín đồ và học tự cho họ là bậc cao thượng. Chẳng hay các Lục sư ấy cao thượng đến bậc nào?

      Phật đáp: Điều ấy chẳng nên tìm hiểu làm chi. Nếu ngươi muốn biết Đạo của Như Lai ra thế nào, Như Lai sẳn lòng giải thích cho người nghe…

      Subhadda vâng lời cung kính lóng nghe Phật thuyết: Nầy Subhadda, đạo là con đường có tám chi, rất quý báu, đưa người đến nơi chấm dứt phiền não. Trong tôn giáo nào không có con đường tám chi ấy, thì chẳng có Sa môn thứ nhứt, thứ nhì, thứ ba, thứ tư trong tôn giáo ấy. Nầy Subhadda, nếu có người hành đúng theo giáo pháp của Đức Như Lai thì trong cõi đời nầy vẫn còn có bậc A la hán. Nầy Subhadda, Kinh Luật của Như Lai là phương pháp đem chúng sanh ra khỏi khổ. Vừa 19 tuổi Như Lai đã xuất gia để tìm thiện pháp. Như Lai đã xuất gia được 51 năm rồi. Ngoài đạo của Như Lai, chẳng có vị Sa Môn nào siêu xuất thế gian (trích Kinh Tam Bảo Pali Lịch sử Xá Lợi Phật – Kỳ Viên Tự xuất bản năm 1953 trang 16, 17)

      Lời di huấn tối hậu của Phật: “Nầy chư vị Tỳ Khưu, Như Lai xin nhắc các Thầy nên ghi nhớ  rằng: các pháp hành có sanh phải có diệt. Các Thầy nên tinh tấn tự tìm sự lợi ích cho mình, nhứt là cố gắng thực hành các pháp cao thượng, chẳng nên dễ duôi…” Mặc dù hơi thở của Ngài đã yếu, nhưng Đức Thế Tôn còm gom những lời giáo huấn trong suốt 45 năm vào một câu là “không nên dễ duôi” để nhắc nhở các môn dệ đừng dãi đãi trên đường tự tu tự độ. (trích Kinh Tam Bảo Pali Lịch sử Xá Lợi Phật – Kỳ Viên Tự xuất bản năm 1953, trang 17) Lời dạy của Phật chính là phần Xá Lợi Phật cao quý nhất đối với chúng sanh trong thế giới Ta Bà.

III. Giải nghĩa từ Phật học “Xá Lợi”

      “Xá Lợi” tiếng Phạn là Saririkadhâtu, cũng gọi Sirìra, dịch là Xá Lợi hay Xá Lỵ; nghĩa đen là tử thi, di cốt, tro tàn… nghĩa bóng chỉ thân, thân cốt, di thân… của Đức Phật, về sau từ ngữ này còn chỉ những tro tàn, mãnh xương của các vị cao tăng sau khi hỏa thiêu…

       Theo Phật Quang đại từ điển, Đài Bắc, Tử Di biên soạn, Phật Quang Sơn xuất bản 1989 thì Xá Lợi có nghĩa là di cốt, dịch ý là thể, thân, thân cốt, di thân. Thông thường xá lợi dùng để chỉ cho di cốt của Phật, nên gọi là Phật cốt hay Phật xá lợi. Chữ này về sau cũng dùng để chỉ cho phần xương đầu của các bậc cao tăng sau khi viên tịch hỏa thiêu còn lại.

      Phẩm “Xả Thân” trong kinh Kim Quang Minh quyển 4 (Đại Chánh Tạng 16, trang 354, quyển thượng) ghi: “Xá Lợi là thành quả của sự tu hành giới định tuệ, giữ giới trong sạch, không dễ gì có được, đó là phước điền tối thượng”. Là một công trình tu chứng của chính Đức Phật Bổn sư Thích Ca trong suốt hành trình 49 năm với tinh thần từ bi thương chúng sanh, dùng trí tuệ siêu xuất mà cứu vớt muôn loài, không tiếc thân mạng và thành tựu đại nguyện từ vô lượng kiếp trước cho đến hôm nay.

      Như vậy, Xá Lợi là những phần thiêng liêng cao quý còn lại sau khi làm lễ trà tỳ (hỏa thiêu) nhục thân của Đức Phật và các vị thánh tăng, cao tăng tu đắc đạo. Là thành quả của công phu tu hành giữ gìn giới luật và công năng tu tập thiền quán cao thâm của Đức Phật cũng như các bậc cao tăng dày công với Phật pháp. Xá Lợi là những viên có hình thể hơi tròn và cứng, lớn nhỏ khác nhau, viên lớn như hạt đậu, hạt bắp; viên nhỏ như hạt gạo, hạt mè; nhỏ nữa như hạt cải. Xá Lợi có nhiều màu sắc như trắng, đỏ, hồng, xanh, vàng… có loại trong như thủy tinh, có loại trắng ngà như hột gạo, có loại phát ra ánh sáng nhẹ nhàng như pha lê, cũng có loại màu sáng nhuận như san hô… Chúng ta tôn kính và đảnh lễ Xá Lợi chính là tôn kính và đảnh lễ Đức Phật Thích Ca và các bậc thánh tăng vậy.

Các thành phần Xá Lợi

      Căn cứ vào kinh “Dục Tượng công đức” (đời nhà Đường, xứ Thiên Trúc, ngày Tam Tạng Bảo Tư Duy dịch Phạn ra Hán, Quảng Minh dịch Hán ra Việt) và sách “Pháp uyển châu lâm”, (do Pháp sư Đạo Thể, tự Huyền Uẩn biên sọan vào đời nhà Đường, TT Thích Nguyên Chơn biên dịch, NXB Phương Đông ấn hành) chúng ta có thể nhận biết Xá Lợi là phần thiêng liêng cao quý của Đức Phật, chư vị Thánh tăng, Cao tăng, Giáo chủ các giáo phái, những bậc làm Thầy Tổ, các bậc thiền gia chân chánh, giữ giới tinh nghiêm, khi niết bàn, thị tịch, viên tịch mới được công nhận là Xá Lợi.

      Những thành phần gọi Xá Lợi:

·       Tro cốt sau khi trà tỳ Đức Phật

·       Răng, tóc, móng, máu của Đức Phật sau khi trà tỳ còn tồn đọng

·       Tro cốt của chư vị Thánh tăng, Cao tăng, Thầy Tổ, Tăng chủ các giáo phái.

·       Vật dụng của các bậc Cao tăng.

Xá Lợi là tôn quý

      Xưa nay người Phật tử chúng ta thường nghe nói đến từ ngữ Phật học “Xá Lợi”, hay “Xá Lợi Phật”, “Xá Lợi Đức Phật” trong các chùa, tịnh xá, nhất là các chùa, tăng xá Phật giáo Nguyên Thủy thuộc Nam tông (Theravada). Nếu là chùa của Phật giáo Bắc tông ở nông thôn đồng nội thì người Phật tử ít nghe qua từ ngữ nầy. Điều nầy cũng đúng thôi, vì Phật giáo Nam tông giữ gìn những gì thuộc di sản văn hóa của Phật giáo xưa, quan điểm của Phật giáo Nam tông “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chính là Đức Phật thật trong cuộc đời”, Ngài có các lịch trình thị hiện vượt dòng sông Arôma xuất gia, 6 năm tu khổ hạnh chốn rừng già, 49 ngày đêm tu chứng, đắc đạo dưới cội bồ đề, hành đạo theo hạnh nguyện của ba đời chư Phật cho đến khi niết bàn dưới táng cây Sa la, thành Câu Thi Na. Chư đệ tử đem hỏa thiêu còn tồn lại những tro tàn, xương cốt gọi là Xá Lợi hay Xá Lợi Phật và được xây tháp tôn thờ, không đem rãi xuống Sông Hằng như ngoại đạo Bà La Môn giáo hay các giáo phái Ni Kiền Tử ở Ấn Độ.

Xá Lợi là của báu

      Theo văn hóa Phật giáo thì Xá Lợi là “Phật bảo”, “Pháp Bảo” của nhà Phật, như một nước có ấn, kiếm của vua là “quốc bảo” của một triều đại vậy, nên phải giữ gìn thật tôn nghiêm mới không bị đánh mất. Như trường hợp của Thượng Tọa Thích Thiện Tâm, Trụ trì chùa Pháp Bảo, Tp.Hồ Chí Minh: Sau ngày hòa bình, Ngài tuyên bố mất Xá Lợi trên chánh điện nhưng tháp thờ Xá Lợi bằng vàng ròng không mất, chứng tỏ Xá Lợi quý hơn vàng, kẻ trộm lấy Xá Lợi chứ không lấy vàng. Chùa Pháp Bảo là chùa Nam Tông, phượng thờ Xá Lợi rất chu đáo kỹ lưỡng mà còn mất, huống gì người tâm trí hờ hững, hằng ngày chỉ chuyên lo việc gia đình xã hội nhiều hơn việc đạo làm sao có phương tiện thờ phượng Xá Lợi.

IV. Xá Lợi cao tăng tại các quốc gia Phật giáo

      Phật giáo đến các vương quốc Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào theo Nam Tông; đến Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, vùng lãnh thổ cận đại Taipei, Tibet, Bhutan, Sikkim thuộc Bắc Tông. Có những vị thánh tăng và các vị đạo sư tu đắc đạo, sau khi viên tịch làm lễ trà tỳ, đệ tử cũng thâu được nhiều Xá Lợi. Tất cả những đồ dùng của Phật và các vị thánh tăng đó như y, bình bát, tích trượng… cũng được gọi là Xá Lợi.

      – Tại Việt Nam, ngày 11/6/1963, Hòa Thượng Thích Quảng Đức (1897-1963), Trụ trì chùa Quan Thế Âm (Phú Nhuận, Saigon) và Long Khánh Tự (xã Long Khánh, quận Cai Lậy, tỉnh Định Tường, nay là tỉnh Tiền Giang) đã tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, Saigon (nay là Tp.Hồ Chí Minh) để bảo vệ Phật giáo bị chánh quyền chế độ cũ đàn áp, không cho Tăng Ni tu hành, bắt bớ tù đày, không cho treo cờ Phật giáo, tổ chức đại lễ Phật đản lộ thiên và cũng để cầu nguyện thế giới được hòa bình, đất nước Việt Nam chấm dứt chiến tranh. Sau khi thiêu hóa, trái tim của Ngài vẫn không cháy. Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo, chư Tăng Ni, đồng bào Phật giáo bấy giờ gọi trái tim của Hòa Thượng Thích Quảng Đức là “trái tim bất diệt”.

      – Tại Myanmar, chùa Shwedagon (chùa Vàng) còn thờ tóc và móng tay của Đức Phật, khi Ngài còn tại thế đã cắt cho hai vị đệ tử tại gia đầu tiên.

      – Ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập (344-413) thuộc xứ Tân Cương, nhà dịch thuật lỗi lạc Trung Quốc, thời Dao Tần ngài học kinh A Hàm tại Kashmir, được phong làm Quốc sư cho nhà Dao Tần, về sau dịch tam tạng thánh điển từ tiếng Phạn ra tiếng Hán. Khi viên tịch, các môn đệ đem thiêu hóa còn tồn lại cái lưỡi đỏ như sen hồng. (Tiểu sư Cưu Ma La Thập – Thư viện Hoa Sen).

      – Năm Dân Quốc thứ 29, Đại sư Ấn Quang biết mình sắp viên tịch, ngày 24 tháng 10, Ngài triệu tập chư Tăng Ni và Cư sĩ về chùa Linh Nham. Trong buổi họp mặt suy cử Hòa thượng Diệu Chơn kế nhiệm Trụ trì, dặn dò các việc mai sau, và bảo: “Pháp môn niệm Phật không có chi đặc biệt lạ kỳ. Chỉ cần khẩn thiết chí thành, thì không ai chẳng được Phật tiếp dẫn”. Qua ngày mùng 4 tháng 11, Đại sư cảm bịnh nhẹ, song vẫn tinh tấn niệm Phật. Niệm xong, bảo đem nước rửa tay, rồi đứng lên nói: “Phật A Di Đà đã đến tiếp dẫn, tôi sắp đi đây. Đại chúng phải tin nguyện niệm Phật cầu về Tây Phương!”. Nói đoạn, bước lại ghế ngồi kiết già, chấp tay trì danh theo tiếng trợ niệm của đại chúng rồi viên tịch. Lúc ấy, Đại sư  60 hạ lạp, thế thọ 80 tuổi. Rằm tháng hai năm sau, nhằm ngày Phật nhập Niết Bàn, cũng vừa đúng kỳ Đại sư vãng sanh được một trăm ngày. Hàng đạo tục các nơi hội về Linh Nham trên hai mươi ngàn người, sắp đặt lễ trà tỳ, lúc ấy bầu trời hốt nhiên sáng tạnh trong trẻo. Khi Hòa Thượng Chân Đạt cầm đuốc cử hỏa, khói bay lên trắng như tuyết, hiện ra ánh sáng năm sắc. Hôm sau Diệu Chơn Hòa Thượng cùng đại chúng đến nơi khám nghiệm, thấy xá lợi hiện ra nhiều hình dáng, đủ các màu, có thứ gồm ngũ sắc,  gõ vào phát ra âm thanh trong trẻo.

      – Chùa Linh Quang, Bà Chiểu, Gia Định, có tháp Xá Lợi Đại sư Huệ Nhựt, thế danh Hồ Cang, tự Hồ Chí Thạnh (1903-1950), Tăng Trưởng Đạo Phật Khất sĩ Đại thừa, Ngài đã bị một số phần tử sát hại, viên tịch vào năm 1950 – thời kỳ chiến tranh Việt Pháp sắp chấm dứt. Khi hỏa thiêu, xương cốt còn nguyên vẹn, được tôn trí thờ phượng tại Pháp Tháp, mỗi năm đến ngày cúng Tổ, Hòa Thượng Trụ trì Thích Phổ Thượng đem Xá Lợi Tổ sư cho mọi người chiêm bái.

Kể từ khi tôi xuống núi năm 1965, có tạm trú ở chùa Linh Quang tu học, đi học tại Phân khoa Đại học Vạn Hạnh – Thánh đường Cơ Đốc Phục Lâm, ngã tư Phú Nhuận – Võ Di Nguy. Đây là lần đầu tiên tôi được chiêm ngưỡng Xá Lợi của một bậc cao tăng viên tịch. Sau đó một năm, tôi về cư trú tại Việt Nam Quốc Tự tiếp tục đi học cho đến năm 1968 thì về tại Quan Âm tu viện.

      – Năm 1969, tôi có đến thăm bạn đạo từng ở chung cốc tịnh tại núi Bồng Lai là Sư Trị sự Giáo đoàn V – Thượng Tọa Thích Giác Hà, thuộc Giáo hội Tăng già Khất sĩ tại Trung tâm Phú Lâm – Saigon (hiện nay là Hòa Thượng Trưởng Giáo đoàn V) được Thượng Tọa cho chiêm ngưỡng Xá Lợi của Đức Thầy Giác Lý – Trưởng Giáo đoàn V đã viên tịch. Trong cuộc đời tu của tôi, đây là lần thứ hai tôi được chiêm ngưỡng Xá Lợi các bậc cao tăng viên tịch.

      – Tại Hà Nội, huyện Thường Tín, xã Nguyễn Trải, thôn Gia Phúc có chùa Đậu, thờ Bà Đậu, tức nữ thần Pháp Vũ, là một trong tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Điện, Pháp Lôi). Vào thế kỷ XVII, Thiền sư Vũ Khắc Minh và Thiền sư Vũ Khắc Trường là hai chú cháu xuất gia tu hành đắc đạo, để lại toàn thân xá lợi, thân không có chôn cất, đốt không cháy, ngâm trong nước không tan. Tượng thiền sư Vũ Khắc Minh đã được tu bổ với các kỹ thuật truyền thống như: bó, hom, lót, thí, mài và thếp với các nguyên liệu như sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất. Tổng số lớp sơn và thếp vàng là 14 lớp. Pho tượng Vũ Khắc Trường đã bị hỏng nặng vào khoảng năm 1983 sau trận lụt lớn. Tượng đã được các nhà nghiên cứu sắp xếp lại những xương bị gãy, bao kín toàn tượng bằng sơn ta, giấy bản, vải màn, mạt cưa, đất và thếp bạc. Đây là tượng Xá Lợi toàn thân của người Việt Nam tu đắc đạo được bảo quản tôn thờ. (Thiền sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường – Bách khoa toàn thư mở)

      Theo Phật giáo Trung Quốc ghi chép, có rất nhiều vị Cao tăng tu đắc đạo, khi viên tịch đem hỏa thiêu có Xá Lợi, một số chư vị Tổ sư, các bậc long tượng trong chốn nhà thiền tiêu biểu như Đức Lục Tổ Huệ Năng (638-713), ngài Hám Sơn – Đức Thanh (1546-1623) có toàn thân Xá Lợi. Pháp sư Thích Khoan Năng, trụ trì am Tây Sơn Tiển Trạch, huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc viên tịch tối 29/9/1989 (thọ 93 tuổi), sau khi hoả táng được hơn 1.000 viên Xá Lợi màu xanh ngọc, đây là nữ pháp sư đầu tiên sau khi hoả táng có Xá Lợi. Sau đó còn có hai Ni Sư là Thông Hiền, Phó Chủ tịch hội Phật giáo Quảng Tây (hoả táng di hài thu được hơn 11.000 viên xá lợi năm màu) và Ni Sư Hựu Quỳnh, tỉnh Quảng Đông (sau khi hoả táng phát hiện những viên xá lợi to bằng hạt đậu xanh có màu ngọc nhạt, lấp lánh).

      – Ngôi chùa Wat Kunaram nằm ở phía Nam của tỉnh Koh Samui nổi tiếng khắp Thái Lan vì đây là nơi gìn giữ xác ướp của vị thiền sư Luang Pho Daeng (hay Loung Por Daeng). Lúc sinh thời, Luang Pho Daeng từng có một cuộc sống trần tục với vợ và những đứa con của mình. Nhưng khi được 50 tuổi, ông đã quyết định dành phần còn lại của đời mình để tu hành. Sau khi thọ Tỳ kheo giới vào năm 1944, Luang Pho Daeng trở thành sư trụ trì của chùa Wat Kunaram, ông nổi tiếng với khả năng thiền định của mình và được rất nhiều đệ tử đi theo. Khi đến tuổi 79, vị thiền sư biết rằng mình sẽ không còn tại thế được bao lâu nữa, ông đã quyết định ngồi thiền định cho đến khi viên tịch vào năm 1973, trong tư thế lưng thẳng, hai chân xếp lại và hai tay vẫn còn bắt ấn (trích Báo mới – Kiến thức chúng tôi – Văn Hóa, Du Lịch)

Xá Lợi toàn thân bên trong pho tượng Phật

      Theo kinh Dục Tượng Công Đức thì Xá Lợi co nhiều thành phần, nhưng trong đó không hề nói đến xác ướp, do thời điểm Phật thuyết pháp nầy chưa có việc ướp xác. Ta có thể nhận định, xác ướp được thực hiện vào các thế kỷ sau công nguyên, như xác ướp của Thiền sư Vũ Khắc Minh, Vũ KhắcTrường của Phật giáo Việt Nam là những xác ướp duy nhứt, do các vị tu chứng đạo, xác thân còn tồn tại sau khi thị tịch, sau đó được các nhà khoa học tiếp tục ướp xác, giữ gìn cho tồn tại lâu bền.

      Người Phật tử Âu Châu và giới truyền thông khoa học tin rằng theo một số truyền thống Phật giáo, các cơ quan nội tạng của bất cứ thiền sư nào cũng có thể tồn tại một cách tương đối, đôi khi có sự phân hủy nhưng ngoại hình vẫn nguyên vẹn so với sự phân hủy cơ thể của những người bình thường, vì các bậc Thánh tăng là những bậc tu hành chứng đạo, vượt qua tầm kiểm chứng của khoa học, các vị đã đạt được một cảnh giới cao hơn mức bình thường. Các xác ướp này không còn là xác ướp bình thường mà là sức mạnh của năng lượng do các vị thiền sư đạt đến quá trình tu chứng rồi tồn tại theo thời gian.

      Xác ướp mà Sư giới thiệu hiện đang ở Luxembourg. Vào cuối năm 2014, các nhà nghiên cứu Hà Lan đã chụp Computerized Tomography (CT) và nội soi bức tượng Phật bao bọc xác ướp Thiền sư LiuQuan (một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử phát triển Phật giáo Trung Quốc trước công nguyên), kết quả cho thấy tượng có niên đại vào thế kỷ thứ XII. Tượng đã được trưng bày ở Bảo tàng Quốc gia Lịch sử Tự nhiên tại Budapest – Hungary đến tháng 5/2024, sau đó được chuyển đến một bảo tàng tại Luxembourg làm tư liệu quý báu cho muôn đời. Đây là xác ướp có niên đại 1.000 năm của một vị cao tăng, chúng ta có thể nhận định đây là Xá Lợi toàn thân, chân thân thiền sư.

CHƯƠNG THỨ HAI

XÁ LỢI PHẬT

V. Chư kinh nói đến các loại Xá Lợi

      Căn cứ vào kinh Đại Bát Niết Bàn và kinh Đại Chánh Tạng 16, trang 354, quyển thượng, thì Xá Lợi là phần tro cốt của Phật và các vị Cao Tăng, theo kinh Phật dạy thì chúng ta có thể khẳng định chỉ có Đức Phật Bổn sư Thích Ca, các bậc thánh tăng đệ tử chính thức của Phật, các bậc cao tăng đắc đạo sau khi tịch đem trà tỳ thiêu hóa, những hiện thể tro tàng tồn tại được gọi là Xá Lợi.

      Trong Trường Bộ Kinh bằng tiếng Pali thì sau khi thân thể (Sarira) liên kết hoàn chỉnh được hỏa thiêu thì biến thành bột như trân châu, vàng ròng mài nhuyễn. Y theo đó, ta biết được Sarira chỉ cho “tử thi”, Dhatuyo chỉ cho “di cốt” sau khi trà tỳ, loại trước gọi là “Toàn thân Xá Lợi”, loại sau gọi là “Toái thân Xá Lợi”.

      Kinh Du Hành, trong Trường A Hàm 4, phẩm Thường Vô Thường, kinh Bồ Tát Xử Thai 3, phẩm Đề Bà Đạt Đa trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng có thuyết Toàn thân Xá Lợi và Toái thân Xá Lợi. An trí toàn bộ di cốt vào một ngôi Tháp gọi là Toàn thân Xá Lợi, còn chia di cốt ra an trí ở nhiều nơi gọi là Toái thân Xá Lợi. Về thuyết Toàn thân Xá Lợi và Toái thân Xá Lợi có thể bắt nguồn từ hai pháp thổ táng và hỏa táng được thực hành từ thời kỳ Lê Câu Phệ Đà ở Ấn Độ ngày xưa, gọi thi thể được thổ táng là Toàn thân Xá Lợi  và di cốt sau khi hỏa táng là Toái thân Xá Lợi. (Từ điển Phật học Huệ Quang, HT Thích Minh Cảnh, tập VII, trang 6153)

      Việc phân chia Xá Lợi Phật, trong Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: sau lễ trà tỳ, Xá Lợi của Đức Phật được chia làm tám phần và phân chia cho đại diện của tám nước đem về thờ tại quốc gia họ. Tám vương quốc đó là:

·       Vương quốc Magadha,

·       Vương quốc Licchavi ở Vesàli,

·       Vương quốc dòng họ Sakya ở Kapillavathu

·       Vương quốc người Buli ở Allakappa,

·       Vương quốc người Koli ở Ràmagàma,

·       Vương quốc người Mallà ở Pàvà và người Ba La môn ở Vethadipa,

·       Vương quốc Kusinàrà,

·       Vương quốc Pipphalivana

      Nhưng hơn 200 năm sau đó (năm 324 trước công nguyên), khi hoàng đế A Dục thống nhất toàn thể lãnh thổ xứ Ấn và trở thành một vị vua Phật tử hộ đạo, vua A Dục đã khai quật gom tất cả Xá Lợi ở tám nơi và chia thành 84.000 phần đựng trong 84.000 tháp báu nhỏ ban bố khắp cả đất nước Ấn Độ thống nhất để thờ phượng.

      Theo Pháp Uyển Châu Lâm quyển 4, Xá Lợi được chia làm ba loại:

·       Xá Lợi xương (màu trắng),

·       Xá Lợi tóc (màu đen)

·       Xá Lợi thịt (màu đỏ).

(trích bài Xá Lợi của Đức Phật – HT Thích Phước Sơn – PL 2546)

Ứng hóa thân Phật

     Phật có tam thân, một là pháp thân, hai là báo thân, ba là ứng hóa sanh thân. Ứng hóa thân là thân thị hiện vào cuộc đời độ sanh, có mang thân tứ đại, sau khi nhập diệt thiêu hóa có Xá Lợi, nên gọi Xá Lợi Phật, Xá Lợi Phật cũng là ứng thân Phật Theo Từ điển Phật học của Cụ Đoàn Trung Còn, trang 1.476, nói về Xá Lợi như sau: Xá Lợi là tro tàn, thân cốt Phật và các vị thánh tăng “bạch nghiệp”, những bậc chân tu đã quá vãng. Hồi Đức Phật Thích Ca 84 tuổi, Ngài thị tịch gần thành Câu Thi Na, chư đệ tử vừa xúc động vừa đem kim thân Ngài lên giàn hỏa mà trà tỳ theo truyền thống của ba đời chư Phật, tro tàn của Ngài thành ra từng viên đẹp đẽ và chiếu sáng như ngọc, nên gọi là Xá Lợi.

     Có hai loại Xá Lợi: Một là “toàn thân Xá Lợi”: như Đức Phật Đa Bảo đã tịch, nhưng Xá Lợi toàn thân thể của Ngài vẫn ngồi kiết già trong Bảo tháp. Trong các đời sau, hể có vị Phật nào giảng kinh Pháp Hoa thì toàn thân Xá Lợi ấy xuất hiện mà nghe kinh và hộ trì chánh pháp. Hai là “toái thân Xá Lợi”: do người tu tụng kinh niệm Phật, tụng chú lực của Phật có công đức, nên Xá Lợi mỗi ngày thêm nhiều (phát sanh) như Xá Lợi Phật Thích Ca thờ trong các chùa tháp, thánh điện trên thế giới.

      Xá Lợi có hai đẳng bậc đặc biệt trong quá trình Phật thị hiện độ sanh: Một là Sanh thân Xá Lợi: tức là “toàn thân Xá Lợi” và “toái thân Xá Lợi”. Chính Phật dùng cái sanh thân mà tu hành giới định tuệ thành Phật, rồi tịch diệt để lại Xá Lợi. Chư thiên và loài người, những ai cúng dường Xá Lợi ấy sẽ được phước đức rất lớn. Hai là Pháp thân Xá Lợi, tức là các kinh điển đại thừa và tiểu thừa, giúp cho chúng sanh tu hành giải thoát khổ đau, ra khỏi những phiền não của kiếp trầm luân sanh tử.

Pháp thân Xá Lợi (Kinh, Luật, Luận)

      Theo kinh Dục Tượng Công Đức thì Xá Lợi được chia thành hai loại là Sanh thân Xá Lợi và Pháp thân Xá Lợi.

      Sanh thân Xá Lợi còn gọi là Thân cốt Xá Lợi, tức là di cốt của Phật như đã nói ở chương I.

      Pháp thân Xá Lợi còn gọi là Pháp tụng Xá Lợi, tức là Giáo pháp và Giới luật của Phật còn lưu truyền lại. Nay xin giới thiệu một số kinh bộ tiêu biểu thuộc diện quý hiếm của người xưa để lại và được liệt kê vào danh sách Xá Lợi Kinh Luật Luận trong Liên tông Tịnh độ Non bồng cho người sau được biết mà tôn thờ.

      Tại Thành phố Qui Nhơn tỉnh Bình Định, là quê hương Phật Pháp những thời xa xưa, Tổ sư Nguyên Thiều (1648-1728) truyền đạo từ nữa cuối thế kỷ thứ XVII, năm 1677 từ Trung Hoa vào Việt Nam xây dựng chùa Di Đà Thập Tháp, Bình Định. Đến năm 1689, Tổ sư được chúa Nguyễn Phúc Trăn sắc chỉ xây dựng chùa Quốc Ân và tháp Phổ Đồng tại Thuận Hóa. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu lên thay cha, sắc phong Ngài làm Trụ trì chùa Hà Trung, sau đó vào Nam, đến ấp Bình Thảo, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cữu, Đồng Nai khai mở nền Phật pháp với tông chỉ “Thiền Tịnh song tu” và xây dựng ngôi Tổ đình Quốc Ân Kim Cang. Hôm nay rất thịnh hành và còn lưu truyền bài pháp “Tổ sư Huấn Hối Yếu Tắc”, gồm có 10 bài, mỗi bài 4 câu kệ, nội dung giáo hóa chư Tăng Ni niệm Phật, giữ giới, thanh bần lạc đạo, xứng đáng là Thích tử chốn thiền môn trong thời hội nhập (Ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Đồng Nai 2024 – HT Thích Giác Quang)

      Tổ đình Linh Sơn, núi Bồng Lai, huyện Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu, nơi Đức Tôn sư Thiện Phước – Nhựt Ý, Tông Trưởng Liên tông Tịnh độ Non bồng có điêu khắc Long vị thờ Tổ sư Minh Đăng Quang đã vắng bóng năm 1955, Long vị cao 1,6 mét tôn thờ tại Tồ đường. Riêng tại Chánh điện Tổ đình có nhiều tủ thờ Pháp bảo, trong đó có 250 bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa bản song ngữ của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh phiên dịch. Vào lúc 10 giờ, ngày 30 tháng 7 năm Giáp Thìn (1964), pháo đài bay F5 dội bom Tổ đình, tất cả tượng Phật đồng, cement, pha lê… đều bị thiêu hủy, riêng Long vị Tổ sư Minh Đăng Quang, 250 bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa không bị cháy, dù một số quyển kinh bị mảnh bom ghim vào bên trong nhưng chữ kinh vẫn còn đọc được. (HT Thích Giác Quang – Tổ đình Linh Sơn, núi Bồng Lai, Bà Rịa Vũng Tàu)

      Tại Quan Âm tu viện có thờ kinh Đại Bát Niết Bàn trọn bộ, do ngài Tam tạng Pháp sư Đàm Vô Sấm, người xứ Thiên Trúc phiên dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Hán vào thới Bắc Lương bên Trung Hoa, bản Việt dịch năm 1931 (thời điểm dịch kinh, Phật Giáo Việt Nam chưa có máy vi tính, cũng không có máy đánh chữ, nhà dịch giả phải viết tay trên tờ giấy ca-rô từ tờ nầy đến tờ khác, sau đó giao cho nhà in ấn sắp xếp), bộ kinh kế tiếp là kinh Diệu Pháp Liên Hoa dịch năm 1937, kế đến là kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, ba bộ kinh nầy do cụ Đoàn Trung Còn phiên dịch, riêng bộ kinh Đại Niết Bàn có Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến kết hợp phiên dịch. Ngoài ra còn có Tam tạng Thánh điển tôn thờ tại Tịnh thất Bảo Tạng; bài kinh Thập nhị nguyện của Bồ Tát Quan Âm, sách dày 4,5 cm, gồm 14 trang, dài 8 cm, rộng 6 cm, bộ sách quý Trúc Song Tùy Bút, tác giả Châu Hoằng Đại sư, dịch giả Thích Viên Thành, NXB Tôn giáo ấn hành năm Phật lịch 2545, hiện đang trưng bày tại Nhà truyền thống Quan Âm tu viện (tư liệu HT Thích Giác Quang – Quan Âm tu viện)

      Chùa Phật Quang, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (thành lập từ năm 1734, đời vua Lê Thuần Tông (1699-1735), chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Trú) do Hòa Thượng Thích Huệ Tánh làm Trụ trì từ năm 1987, chùa đang tôn thờ bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa điêu khắc trên 118 tấm gổ thị (khắc ngược) do Thiền sư Minh Dung chủ trì, có sự hổ trợ của Thầy Thiện Pháp cùng với 52 Phật tử thực hiện từ năm 1704 đến 1732, đúng 28 năm mới hoàn thành, bộ kinh là một di sản văn hóa Phật giáo đặc sắc. (thông tin từ HT Thích Huệ Tánh khi viếng thăm Quan Âm tu viện vào ngày 30 tháng 7 năm Ất Dậu, 2005)

      Ngoài ra còn có bản kinh Kim Cang (hay còn gọi là kinh Kim Cương) gồm 7.000 chữ, có lời chú sớ của Vua Quang Toản – Cảnh Thịnh. Bản kinh được thêu trên lụa gấm và lụa đào, dài 2,47 mét, rộng 23,4 cm, hiện được lưu giữ tại chùa Trúc Lâm, Huế. (kinh Kim Cang, dòng lịch sử – thời điểm và văn bản – Thích Thái Hòa)

Do hạnh nguyện mà thị hiện có Xá Lợi

      Tât cả mọi việc Phật sự của Phật, đệ tử Phật là do hạnh nguyện mà thị hiện, nên dù cho thị hiện thân ứng hóa, thân ngũ trược, báo thân hay pháp thân cũng đều thị hiện thân hỏa thiêu có Xá Lợi. Có người nói thân Như Lai là thân ứng hóa làm sao có Xá Lợi như các Đức Phật trong mười phương? Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Nầy thiện nam tử, có người ỷ dòng họ mà sanh kiêu mạn như vậy, nên Đức Như Lai giáng sanh trong dòng họ cao sang, có sanh ra, lớn lên, có già rồi có chết mà chẳng hóa sanh, vì hóa sanh thì không để lại được thân Xá Lợi cho chúng sanh phượng thờ. Nầy thiện nam tử, Đức Như Lai có cha mẹ thật, cha là Vua Tịnh Phạn, mẹ là Hoàng hậu Ma Da mà còn có chúng sanh nói rằng Như Lai là người huyễn hóa, như thế thời đâu nên hóa sanh. Nầy thiện nam tử, nếu Như Lai hóa sanh, thời làm thế nào có thân thể nát ra thành Xá Lợi. Đức Như Lai vì muốn cho chúng sanh tăng trưởng phước đức nên nát rã thân thể mình thành Xá Lợi để cho chúng sanh cúng dường. Do đây nên Đức Như Lai chẳng hóa sanh”. (Kinh Đại Bát Niết bàn – phẩm Sư Tử Hông Bồ tát, trang  419, HT Thích Trí Tịnh phiên dịch, Quan Âm tu viện ấn tống phát hành)

VI. Cúng dường Xá Lợi Phật

      Phật giáo Việt Nam ngày càng có nhiều Phật tử hướng vê tôn thờ, cúng dường Xá Lợi, nguyên nhân là do:

– Chúng sanh trong thế giới Ta Bà có nhân duyên với Đức Phật và một lòng khát ngưỡng ai cầu Phật Pháp.

– Theo môi trường tín ngưỡng Phật Pháp nơi xứ sở Phật thị hiện, nơi đó con người mang thân tứ đại sanh diệt, có tín tâm, có nghi ngờ,  có khổ đau, có vui buồn, có hạnh phúc, có nghèo nàn… thuận lợi cho chúng sanh nơi ấy khởi niềm tin tưởng mà hướng về giáo pháp Đức Phật.

– Giới pháp của ba đời chư Phật sẽ được truyền trao cho chúng sanh và chúng sanh đều phát tâm thọ học.

– Khi cung nghinh tôn thờ Xá Lợi, các gia đình Phật tử gặp nhiều thuận lợi, ngày càng sung túc, phát triển, ăn nên làm ra, thân tâm an lạc, được từ lực Phật gia hộ, tinh tấn tu hành, trường chay niệm Phật.

      Theo tư liệu lễ hội rước Xá Lợi “Răng Phật” ở Sri Lanka  thì Xá Lợi Phật được chia thành 8 phần, được cất giữ ở tám nơi khác nhau: một là Cung Trời Đạo Lợi – Hai là Sri Lanka (xá lợi Răng) – Ba là xứ Ga Đà Ra – Bốn là Thủy cung – Năm là vua Trời Phạm Thiên – Xương Đầu Xá Lợi – Hai xương cổ và 4 chiếc răng Xá Lợi., trong đó có một chiếc đem cúng dường tại Vương quốc Sri Lanka,

      Nói đến đây, hàng Phật tử chúng ta cũng nên biết tại Sri Lanka có bốn phần linh khí của Phật được gọi là quốc bảo:

      1/. Xá Lợi Răng Phật: được thờ tại đền Kandy nằm trong khuôn viên của hoàng cung cũ. Chưa cần bàn đến chuyện ngôi đền được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới này được bảo tồn tốt như thế nào, riêng khung cảnh tuyệt đẹp với thảm cỏ và cây cối xanh mát soi bóng bên mặt hồ cũng đủ thấy sự tuyệt vời ở nơi đây.

      2/. Cây Bồ đề hơn 2.500 năm: Sau khi Phật nhập diệt, Hoàng đế A Dục đã hết lòng bày tỏ tâm cung kính của mình và lòng tôn trọng bảo vệ cây bồ đề tại Bồ đề Đạo Tràng. Vị Hoàng đế Phật tử này đã sai con gái mình là công chúa mà sau này trở thành Tỳ kheo ni Sanghamitta chiết một nhánh phía nam của cây bồ đề mang qua Sri Lanka trồng tại thành phố cổ Anuradhapura suốt trong thời vua Devanampiyatissa trị vì. Nhánh cây bồ đề này vẫn còn xanh tốt cho đến ngày nay và trở thành một rừng Bồ Đề vươn xa hàng mấy chục kilômét. Trong khi cây bồ đề gốc tại Bồ đề Đạo Tràng đã bị hủy nhiều lần bởi nhiều thời đại sau đó. Vì vậy, cây bồ đề được tuyên bố trong lịch sử cây cổ nhất trên thế giới là cây được trồng tại thành phố Anuradhapura này.

      3/. Đền Thuparama: là một trong những ngôi đền cổ nhất của Phật giáo tại Sri Lanka. Đền được xây dựng trong thành phố cổ Anuradhapura vào thế kỷ thứ III trước công nguyên dưới triều đại vua Devanmpiyatissa. Ngôi đền này vẫn còn lưu giữ một mảnh xương vai phải của Đức Phật.

      4/. Đại Bảo Tháp Ruwanweliseya, được xem là công trình kiến trúc Phật giáo độc đáo và linh thiêng nhất trên toàn thế giới. Bảo tháp được xây dựng dưới triều đại của vua Dutugemunu vào năm 140 TCN. Đại bảo tháp Ruwanweliseya là nơi lưu giữ hài cốt của các vị cao tăng đắc đạo ở Sri Lanka. Công trình này kết hợp độc đáo kiến trúc mang triết lý Phật giáo vì nhìn bề ngoài bảo tháp trông giống như hình bọt nước nổi lên, tượng trưng cho cuộc sống mong manh và vô thường của con người. Mái vòm đồ sộ tượng trưng cho đạo pháp vô biên và bốn mặt trên đỉnh tháp tượng trưng cho Tứ diệu đế, bốn chân lý cao cả trong Phật pháp và tám vòng tròn đồng tâm tượng trưng cho Bát chính đạo, tám con đường thoát khổ và giúp con người giác ngộ.

      Trong bốn quốc bảo trên, quốc bảo Xá Lợi Răng Phật được Chính phủ cho phép mỗi năm tổ chức lễ rước từ ngày mùng 01 đến ngày 12 tháng 4, là ngày quốc lễ Esala Pehera cúng dường Xá Lợi Răng Phật (trích Vườn Hoa Phật Giáo – chuyên trang thông tin về Đạo Phật)

Sư Anando cúng dường Xá Lợi

      Năm 1969, Sư ANando (thuộc Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam; là Bạn thân của Hòa Thượng Thích Giác Quang) về cầu pháp tu hành với Đức Tôn sư Thiện Phước – Nhựt Ý, sau đó Sư đi du học ở Sri Lanka có thỉnh hai viên ngọc Xá Lợi của Đức Phật, khi học xong Sư đem về cúng dường cho Đức Tôn Sư và Ni Trường Thích nữ Huệ Giác. Ngọc Xá Lợi nầy màu vàng ánh, nhỏ như hạt cải. Tôi (Thích Giác Quang) có nhơn duyên được giữ gìn ngọc Xá Lợi từ năm 1969 đến năm 1986, mỗi lần đến đại lễ Phật đản, Tôi xin phép Thầy Tổ được đem ra chiêm ngưỡng đảnh lễ Xá Lợi. Hai viên ngọc Xá Lợi nầy khi thả vào nước mưa (hứng giữa trời) thì nổi trên mặt nước và lúc nào cũng lung linh theo sự thuyên động của nước trong bát. Đấy là lần đầu tiên Tôi được tôn thờ, giữ gìn, đảnh lễ Xá Lợi Đức Phật, ngọc Xá Lợi đó hiện nay đang được tôn thờ tại tịnh thất Bảo Tạng – Quan Âm tu viện.

Sự tín tâm của Phật tử Bình Dương và TP.Hồ Chí Minh

       Các Tháp Xá Lợi đó hôm nay được tôn thờ tại chánh điện Phân hiệu Ni, thật trang nghiêm thanh khiết như thời vàng son Đức Phật sanh tiền. Từ năm 2005 đến nay, rất nhiều đoàn cúng đường Xá Lợi về Quan Âm tu viện, như Đoàn Thượng Tọa Thích Thiện Hỷ – Trụ trì Nhứt Nguyên bửu tự; Thượng Tọa Thích Minh Luận – Trụ trì chùa Linh Quang, Bàu Sen, Long Điền; Đoàn Sư cô Bửu Liên – Tp.Hồ Chí Minh; Đoàn Cư sĩ Tâm Tịnh Nguyễn Thị Ngọc Sương, Đoàn Cư sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hường, pháp danh Tâm Huệ, Đoàn cô Lê Tú Lan, pháp danh Ngọc Hoa, Cty Vũ Kiều (Bình Dương), Đoàn Cô Đang và gia đình, Đoàn Cô Diệu Thanh – Thiện Hạnh (Tp.Hồ Chí Minh), Đoàn gia đình Phật tử Diệu Ngọc (Cô Bảy Kim, huyện Dầu Tiếng)… các vị đã thỉnh Xá Lợi từ các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Myamar, Thái Lan về cúng dường Quan Âm tu viện.

Thờ đất thiêng tại Quan Âm tu viện

      Về đất thiêng, ngoài của Sư Anando cúng dường còn có đất thiêng của bốn nơi động tâm (nơi Phật giáng sanh, nơi Phật xuất gia, nơi Phật thành đạo, nơi Phật nhập niết bàn) do Ni Trưởng Thích nữ Huệ Giác trực tiếp thỉnh tại Ấn Độ đem về Việt Nam tôn thờ từ năm 2006 đến nay. Tại tịnh thất Bảo Tạng – Quan Âm tu viện còn có di cốt của Đức Pháp chủ Thích Khánh Anh – thượng thủ Giáo hội Tăng Già Nam Việt; tóc của Đức Sư Ông Thích Bửu Đức; răng, tóc, móng của Đức Tôn sư Thiện Phước – Nhựt Ý. (theo tư liệu HT Thích Giác Quang – Quan Âm tu viện ngày 20/8/2024)

Xây điện thờ Xá Lợi

      Theo thông tin từ Sư cô Diệu Minh thì Phật tử Thanh Trúc sẽ phát tâm xây dựng Trung Tâm phượng thờ Xá Lợi trên phần đất của gia đình tại ngã ba Dầu Giây, nơi đây sẽ tôn trí thờ Xá Lợi răng, ngọc Xá Lợi Đức Phật, Xá Lợi các vị thánh tăng, các vị cao tăng  đã được khai quật tại Ấn Độ.

VII. Nhơn duyên được cúng dường Xá Lợi Phật

      Tôi có nhơn duyên được các đoàn chư Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước cúng dường Xá Lợi Phật, Xá Lợi chư vị Cao tăng, chư Sơn Thiền đức, trong đó có các đoàn của Thượng Tọa Thích Thiện Linh, Vườn Bát Đức, núi Dinh, Đạo tràng Tây phương Bồng Đão và đệ tử cúng dường Xá Lợi chư vị Cao tăng đệ tử Đức Phật, phái đoàn Sư cô Thích nữ Bửu Liên, tiệm cơm chay Hòa Bình, Tp.Hồ Chí Minh cúng dường gần 150 tháp Xá Lợi Phật, trong đó Sư cô hiến tặng cho tôi 5 tháp Xá Lợi tôn thờ tại liêu phòng để làm nơi thanh tịnh niệm Phật, tụng chú.

      Ngày 19 tháng 6 năm Nhâm Thìn (2012), Sư cô Thích nữ Diệu Minh (trụ trì tịnh thất Bửu Minh) hướng dẫn Cô Thanh Trúc (thuộc Phật giáo Nam tông), Nữ cư sĩ Tâm Huệ, cô Ngọc Hoa (Phật giáo Non Bồng) và quý Phật tử Tp.Hồ Chí Minh, Bình Dương cúng dường Xá Lợi Phật tại Quan Âm tu viện; sau khi an vị xong, cô Thanh Trúc có dành phần hiến tặng cúng dường cho tôi 10 tháp Xá Lợi Phật để tôn thờ.

      Ngày 25 tháng 6, Sư cô Bửu Minh cúng dường 50 tháp Xá Lợi Phật cho tôi để tôn thờ và tặng cho Phật tử hữu duyên chiêm ngưỡng Xá Lợi Phật.

      Ngày 19 tháng 9 năm Bính Thân (2024), Phật tử Diệu Ngọc – Nguyễn Thị Kim, huyện Dầu Tiếng, phát tâm cúng dường HT Thích Giác Quang bình đựng Xá Lợi Phật loại lớn để đựng Xá Lợi Phật và nhiều Xá Lợi cao tăng để làm phương tiện tôn thờ.

      Ngày 25 tháng 8 năm Bính Thân (2024), Sư cô Thích nữ Bửu Minh – Trụ trì Tịnh thất Bửu Minh, Bình Phước, Bình Dương, hướng dẫn các gia đình Phật tử Diệu Ngọc (Dầu Tiếng), gia đình Phật tử Diệu Phi, gia đình Phật tử Diệu Thanh, gia đình Phật tử Thanh Trúc (Tp.Hồ Chí Minh) cúng dường ngọc Xá Lợi Phật: 01 bộ Xá Lợi hình tượng Phật (đá cẩm thạch), 01 bộ Xá Lợi hoa sen, tóc Phật, 01 cặp voi (gốm), mão bằng chất liệu pha lê xanh làm pháp khí ngài Hộ Pháp… dâng cúng dường HT Thích Giác Quang để tôn vinh Hòa Thượng đã phát tâm cống hiến trọn đời mình cho Phật pháp và môn phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng. Đây là việc làm đại công đức đối với Phật pháp, góp phần gánh vác Phật pháp, cùng nhau chia sẻ xum lo Phật pháp chung trong Liên tông Tịnh độ Non bồng.

Cung nghinh Xá Lợi

      Ngày 19 tháng 6 năm 2006, lễ vía Đưc Bồ Tát Quan Âm thành đạo, vào lúc 5 giớ sáng, Hòa Thượng Thích Giác Quang được thông tin hôm nay có lễ rước Xá Lời từ Tp.Hồ Chí Minh về tại Quan Âm tu viện, trưởng đoàn là Cô Thanh Trúc. Hòa Thượng liền mời Sư Thiện Thanh và nhờ Sư điều hành việc chuẩn bị hương, đăng, hoa quả, thiết lập bàn hương án ngay giữa đường cách phòng Hòa Thượng Thích Giác Quang 10 mét, có sắm cả khay lễ, trong đó có bát xông trầm hương, hương trầm tỏa quyện cả bầu không gian trong lành của buổi bình minh, bên kia chân trời vầng hồng đang ló dạng, đem lại một sức sống mãnh liệt trong mỗi tâm hồn của Tăng Ni, Phật tử sắp cung nghinh Xá Lợi Đức Phật.

      5 giờ 45 phút, đoàn xe đến đọan đường gần núi Châu Thới, chỉ còn 2 km nữa là tới địa điểm cung nghinh Xá Lợi, 300 chư Tăng Ni, Phật tử bước vào hàng ngũ, đứng trang nghiêm, tất cả đều chắp tay thành kính. Khi xe vừa đến, Hòa Thượng Thích Giác Quang chào quý vị Trưởng đoàn và quý vị nam nữ Phật tử, những người tín tâm và nhiệt huyết đã phát tâm cúng dường Xá Lợi Phật, đưa về tôn thờ tại Quan Âm tu viện. Đoàn do Sư cô Thích nữ Diệu Minh, Trụ trì tịnh thất Bửu Minh cố vấn hướng dẫn; người phát tâm cúng Xá Lợi đầu tiên về tại Quan Âm tu viện là Cô Thanh Trúc, một đệ tử của Phật giáo Nam tông. Quý Sư bất ngờ vì Xá Lợi rất nhiều, số lượng lên đến hàng trăm tháp nhỏ, mỗi tháp cao 10 cm, được đặt trong các tháp pha lê lớn, tôn trí trên khay rất trang trọng… Tôi là người đầu tiên bưng một khay Xá Lợi, đi trước tôi là quý Sư Thiện Thanh đánh chuông, tiếp đến là Thượng Tọa Thích Vạn Hùng bưng khay lễ… từng bước chân chậm rãi đi thành hàng theo thứ tự, quý Thượng Tọa, Ni Sư, chư Tăng, Ni Quan Âm tu viện, Sư cô Diệu Minh, Cô Thanh Trúc và gia đình, Cư sĩ Thiện Lộc cùng quý nam nữ Phật tử tháp tùng theo đoàn… tất cả đều bước đi thật chậm trên lộ trình 200 mét đến nơi điện thờ Đức Tôn Sư, cũng là nơi tôn trí Xá Lợi để an vị. Đường đi được trải bằng thảm vải vàng thật trang nghiêm và trân trọng vô cùng, hòa với tiếng niệm “Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Vương Bồ Tát Ma ha tát” là những đóa hoa tươi tung rãi trên suốt quãng đường, những cánh sen hồng, sen trắng, hoa hồng, hoa hồng trắng, hoa lài, hoa giấy ngũ sắc… tung bay lung linh trong nắng sớm, hòa với những tâm hồn vô tư của chư Tăng Ni Quan Âm tu viện đang chắp tay đón mừng những tháp “Xá Lợi niềm tin” mang nhiều dấu ấn kỷ niệm từ ngàn xưa tại rừng Ta La song thọ, thành Câu Thi Na, nơi mà Đức Thế Tôn đã nhập diệt nhưng Ngài đã ban cho chúng nhân đệ tử một ân huệ hy hữu trên thế gian.

       Đúng 7 giờ, lễ an vị Xá Lợi được cử hành, Hòa Thượng Thích Giác Quang cùng chư giáo phẩm Tăng Ni vân tập trước điện thờ Đức Tôn Sư, bắt đầu nghi thức cung nghinh Xá Lợi, an vị Xá Lợi, đảnh lễ Xá Lợi, Tôn thờ Xá Lợi… Nguyện đem công đức nầy cầu phước trí nhị nghiêm thân, thanh tịnh đại hải chúng, cầu nguyện chư Tăng Ni an lạc, tinh tấn tu hành, thế giới hòa bình, nhân dân an cư lạc nghiệp.

CHƯƠNG THỨ BA

XÁ LỢI NIỀM TIN

VIII. Xá Lợi niềm tin

      Tín ngưỡng là niềm tin tôn giáo, nhất là niềm tin trong thế giới những người con Phật, rất xác đáng và nghiêm túc. Một đôi khi do môi trường khắc nghiệt, xa ánh sáng Phật pháp, xa thời Phật nhập diệt, nên sự tín ngưỡng bị lệch lạc, kéo theo sự mê tín, như tin Đức Phật là thần thánh, có quyền năng ban phước giáng họa, chứ không tin Phật là bậc giác ngộ, cầu tu giải thoát những khổ đau phiền não cho chính mình và tìm phương án giải thoát khổ đau cho mọi người. Sự tín ngưỡng bao giờ cũng là con đường đi đến chỗ siêu việt về tâm linh “tin Phật là có Phật”, làm việc gì tin vào “sự thành công thì đẫn đến thành công”. Mặc khác, có sự tín ngưỡng nặng về “hình thức”, lúc nào cũng chú trọng đến “sắc tướng”, không chú trọng đến tâm linh, không tư duy đến cái “không hình tướng”, không có chánh kiến thì không còn bảo đãm tính chân thật trong Phật pháp.

      Như một khúc gỗ thô ban đầu, qua tay nghệ nhân điêu khắc trở thành tượng Đức Phật để thờ, chắc chắn lúc bấy giờ mọi người sẽ lạy tượng Phật mà trước kia đó chỉ là khúc gỗ. Đây chính là niềm tin tâm linh cụ thế nhất trong thế giới nhà Phật: lấy giả làm thật, lấy vọng làm chơn. Như vậy thì việc tin Xá Lợi thật hay giả cũng căn cứ vào tâm niệm, niềm tin của chúng ta. Như Phật tử làm rơi viên Xá Lợi vào trong cát, coi như bị mất Xá Lợi, khó mà tìm kiếm Xá Lợi lẫn trong cát, lúc bấy giờ tìm mãi không được, Phật tử liền suy nghĩ: “ta tin hột cát là Xá Lợi”, vừa tâm niệm như thế Phật tử liền “tìm được Xá Lợi”. Trường hợp nếu không có niềm tin thì không tìm được Xá Lợi.

      Trong tông Tịnh Độ, ngài Long Thọ Bồ Tát, thế kỷ thứ III sau tây lịch có trứ tác bài kệ, xin trích một đoạn như sau:

“Nếu người trồng căn lành

Nghi thì hoa không nở

Người tín tâm thanh tịnh

Hoa nở liền thấy Phật”

      Trong Duy Thức Học tam thập tụng, Phật dạy: “…Nhứt thiết duy tâm tạo…”, mỗi mỗi sự việc, sự vật gì đó đều do tâm mình suy nghĩ “thật thì nó thật”, suy nghĩ “không thật thí nó không thật”. Cho nên chúng ta tin Xá Lợi thật thì có thật, chúng ta xem đó là giả thì Xá Lợi giả.

      Theo tư liệu “Xá Lợi thật của Phật và Xá Lợi niềm tin” của nhà khảo cổ học người Anh tên William Claxton Peppe thì vào năm 1898 đã phát hiện ra Xá Lợi Phật ở Ca tỳ La vệ (Kapilvastu) quê hương Đức Phật. Hiện nay những di cốt Xá Lợi Đức Phật được khai quật tại cố đô Ca tỳ La vệ thuộc dòng họ Sakya đang được tôn trí tại Viện bảo tàng New Delhi – Ấn Độ. Điểm thứ hai tại kinh đô Tỳ Xá Ly (Hoa Thị Thành) thuộc dòng họ Lichivas, sau khi khai quật được tôn trí tại Viện bảo tàng Patna. Điểm thứ ba tại Dharmarajika ở Sarnath, là một thành phố lớn do ông Jagat Singh làm Thị trưởng, ông là người theo đạo Bà la môn, không tin vào việc thờ Xá Lợi Đức Phật nên đã đem Xá Lợi Đức Phật thả xuống sông Hằng theo tập tục người Ấn. Còn lại gạch của tháp Xá Lợi đem xây nhà khu kiều bào mang tên ông (Jagat Singh), ôi thật đau xót! (trích Xá Lợi Phật và Xá Lợi niềm tin – Thư viện Hoa Sen). Việc làm của Thị trưởng Jagat Singh là người theo tín ngưởng của đạo Bà la môn, đã xúc phạm đến sự tín ngưỡng và lòng tự trọng của người Phật giáo, mặc dù vậy nhưng cũng không phá vỡ sự tín ngưỡng về Đức Phật, sự tín ngưỡng đó đã lan rộng khắp năm châu bốn bể cho đến ngày nay, mọi người tìm cách tạo nên sự tín ngưỡng “tôn thờ Xá Lợi bằng niềm tin tâm linh, tin có thì có, tin thật thì thật”.

      Như vậy, Xá Lợi Đức Phật sau khi niết bàn được chia cho tám Vương quốc, theo năm tháng thăng trầm của Đạo Phật, nhằm để tránh sự dòm ngó của ngọai đạo, các phần Xá Lợi đã được triều đình Ca-tỳ-la-vệ, các cụ trưởng lão, những người con cháu Đức Phật chôn giấu kỹ lưỡng, sâu trong lòng đất, núi non hùng vĩ. Theo tư liệu của W.C.Peppe kiểm chứng lại thì Xá Lợi Phật vẫn còn nhiều trên quê hương Đức Phật, còn 5 nơi nữa trên một đất nước mênh mông, trong vùng núi rừng thiêng liêng và huyền bí, con người nơi đây thích cảnh sống vô vi, không thiết tìm cầu Xá Lợi Phật. Do vậy, các loại Xá Lợi truyền bá tại Tây Tạng, Bhutan, Sikkim, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia… chỉ là “Xá Lợi niệm tin” vì chưa được giám định ADN, xác định gen di truyền, chưa kiểm dịch C14 để xác định niên đại… Chúng ta chưa biết thật giả ra sao vì không có cơ sở để xác định nhưng dù sao đó cũng là một phần quan trọng trong tín ngưỡng Phật giáo.

IX. Phật tử qua đời hỏa thiêu có Xá Lợi?

      Có một điều mà từ bao năm qua người tu sĩ Phật giáo mãi suy nghĩ đó là việc nhận định về Xá Lợi Cư sĩ. Người Cư sĩ tu niệm Phật khi qua đời hỏa thiêu có Xá Lợi xưa nay là một hiện tượng không hiếm, điều nầy nên tán thán công đức tu hành của những Cư sĩ Phật tử.

      Với danh từ Phật học, các Bạn được xưng danh là Cư sĩ Phật tử, cũng là con của Phật, nhưng thuộc vào hàng Cư sĩ, do gia duyên bận buộc nên mức độ tu chứng có chừng mực, vã lại trong quá trình tu hành cũng không ai nghĩ mình có Xá Lợi làm gì, cũng không Cư sĩ Phật tử nào xưng hô mình hỏa thiêu có Xá Lợi, tất cả những gì cao quý, được mọi người tôn vinh, kính trọng… chắc chắn Phật tử sẽ phát nguyện dành cho Đức Phật và Thầy Tổ (cao tăng) của mình. Dù người Phật tử qua đời thiêu hóa có Xá Lợi thật đi nữa thì cũng không thể gọi là thánh tăng hay cao tăng được.

      Nếu người Phật tử tu hành chính chắn, có đạo hạnh thì khi thiêu hóa cũng có Xá Lợi như các bậc thánh tăng và nhà Phật vẫn trân quý và tôn thờ Xá Lợi đó theo giới hạnh Cư sĩ, các vị Cư sĩ đó là những người con Phật bảo hộ Phật Pháp, khiến cho chánh pháp tồn tại bền lâu trong đời. Tuy nhiên, đối với Phật tử lúc lâm chung, cần áp dụng  những từ ngữ cho đúng, như: Phật tử qua đời, Phật tử quy Tây, Phật tử đi về… thì được; không nên nói Phật tử “thị tịch”, Phật tử “Niết bàn”, Phật tử “viên tịch”… Nhưng cũng có thể dùng từ “Xá Lợi” áp dụng cho Phật tử.

       Chúng ta có thể tháo gở một phần để cho thấy từ ngữ “Xá Lợi” cũng áp dụng cho Phật tử khi lâm chung. Trên lộ trình tu chứng, căn cứ kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa, Đức Phật dạy ông Tu Bồ Đề: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tường tức kiến Như Lai…”, nghĩa là: “Nầy Ông Tu Bồ Đề, trong thế gian tất cả các tướng đều là hư vọng, Ông nhìn thấy các tướng chẳng phải tướng, mới thấy được Phật”. Thật vậy, theo Phật giáo đại thừa thì các tướng nam, tướng nữ, tướng xuất gia, tường tại gia, tướng Phật, tướng chúng sanh… đều là giả tướng, phi tướng, tức là “không có tướng”, cũng là “không tướng”, tướng “không tướng” tức là tướng thanh tịnh. Người tu đắc đạo, đạt lý “không tướng” tức là  đạt đến quá trình tu chứng “tự tánh không”, các tướng đều đồng đẳng, không cao thấp. Như vậy người con Phật xuất gia hay tại gia khi xả báo thân, hỏa thiêu có Xá Lợi thì Xá Lợi đó cũng đều là Xá Lợi được tôn thờ.

      Nói vậy thôi, chứ chúng ta không nên bàn việc phượng thờ Xá Lợi lên thành cao trào, trên thế gian việc nào mà đã lên đến cao trào thì chắc chắn có lúc cũng phải bị tuột dốc thấp thỏm đến mức tồi tệ. Vì cao trào sẽ đưa đến chổ hình thức phức tạp, Xá Lợi do con người tạo có nhiều hơn Xá Lợi thật, Xá Lợi không còn chân thật, xứng đáng chổ thật tu thật chứng nữa. Vô tình chúng ta đưa Phật Pháp vào vùng trũng “hào hoa hư ngụy”, không còn niềm tin trong lòng người Phật tử chân chánh. Với người tu Phật, hạnh nguyện duy nhứt là cầu đạo giải thoát, cầu giải thoát thì không cần cầu cho có Xá Lợi, cũng không nên mong chờ khi chết hỏa thiêu có Xá Lợi, xem Xá Lợi như người làm công, một phương tiện đỡ nâng, lòe mắt thế gian trong thế giới huyễn ảo.

X. Công đức thờ cúng Xá Lợi

      Phật giáo Việt Nam. nhất là các chùa Nam tông Phật giáo, một ít chùa Bắc tông, các nhà Sư, Phật tử Việt Nam tôn thờ cung nghinh Xá Lợi rất nhiều và rất tôn kính. Tuy nhiên cũng có những người thờ Xá Lợi mà không tròn tâm tròn ý, xao lãng việc Phật, xem Xá Lợi như món quà tinh thần, thì phải mất Xá Lợi thôi. Có những vị vì quá tín ngưỡng, để Xá Lợi trong ống vàng, ống bạc, ống mica… đeo Xá Lợi lên cổ, tin tưởng Xá Lợi sẽ gia hộ cho hết bệnh, tai qua nan khỏi, sanh mệnh an khang, Xá Lợi gia hộ cho khỏi bị sa đọa địa ngục… có người để Xá Lợi trong ví tiền cho có tiền nhiều, để Xá Lợi trong cặp học cho Phật hộ học giỏi… một thời gian sau do quên lãng nên đánh mất Xá Lợi, hoặc Xá Lợi nát vụn theo thời gian. Sự tín ngưỡng nầy có phước hữu lậu, không có công đức, không có trí tuệ, làm tăng trưởng nghiệp chướng thế gian, che án con đường đi đến Phật Pháp. Việc tín ngưỡng Xá Lợi dù là “Xá Lợi thật” hay “Xá Lợi niềm tin” vẫn được sự hộ trì của chư Phật, làm việc Phật sự nào cũng thành tựu tốt đẹp vì những người đó cũng là họ hàng của Phật từ trong vô lượng kiếp. Những gia đình Phật tử phát tâm thờ Xá Lợi, nơi đó phải phượng thờ ngôi Tam Bảo thật trang nghiêm và đơn giản, người thờ phải phát tâm ăn chay trường, tụng kinh niệm Phật ít nhất một thời vào buổi tối, tư cách tu hành được thầy Bổn sư và đồng đạo tín nhiệm.

      Đức Phật là bậc chánh đẳng chánh giác, phước đức vô biên, trí tuệ vô cùng tận… Ngài lúc nào cũng được người thế gian tín ngưỡng tôn sùng, bái lạy, kính thờ đến độ in hình Phật vào bao nhang, dầu gió, thực phẩm… Đôi khi hình Phật bị bỏ rơi đâu đó trên đường, bị người thế gian giẫm đạp, trông thấy thật chạnh lòng. Nếu là người Phật tử có trách nhiệm, chúng ta nên nhặt đem về thiêu hóa trong chậu sạch thì mới có thể yên lòng. Cũng như nơi thờ Xá Lợi Đức Phật là phải thật tinh khiết, tôn trí Xá Lợi trong tháp báu, đặt lên bàn Phật cho trang nghiêm, kỹ lưỡng, kín đáo thì Xá Lợi mới còn tồn tại với Bạn. Không nên đem ra, đưa vào nhiều lần cho mọi người chiêm ngưỡng, làm “phai nhòa” hình ảnh Đức Thế Tôn.

      Mỗi năm vào ngày đại lễ Phật đản, có những nơi Thầy Trụ trì đem Xá Lợi ra trước bàn thờ Đức Phật đản sinh để cho Phật tử đi kinh hành chiêm bái. Đến ngày cúng húy kỵ tổ sư khai sơn thì đem tro tàn của Thầy Tổ cho Phật tử tưởng niệm, làm như vậy cũng là đủ rồi. Không nên thờ Xá Lợi lộ thiên, sẽ bị mất vào tay của người xấu, cũng không nên đặt nơi quá kín đáo, Xá Lợi sẽ mất vĩnh viễn, không còn trở lại với bạn.

      Ỡ Việt Nam, nhất là ở Tp. Hồ Chí Minh; Tp.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có nhiều gia đình Phật tử tín tâm, tuy là tu hành tại gia nhưng việc tu tập thiền tụng giống như người xuất gia, sống am thất riêng, rất tín tâm trong việc thờ phượng Xá Lợi, hằng ngày tinh chuyên tụng niệm, đảnh lễ Xá Lợi, niệm chú Đại bi và các thần chú linh ứng khác, thời gian từ 7 ngày, 21 ngày, cho đến 100 ngày. Khi nhơn duyên đã đến, được chiêm ngưỡng Xá Lợi phát sanh, có khi nhân đôi, có khi hình như bể nát, hiện tượng nầy gọi là “toái thân Xá Lợi” (tự điển Phật học – Đoàn Trung Còn), cũng gọi là “Xá Lợi niềm tin”, làm cho người thờ Xá Lợi rất bùi ngùi xúc động và hoan hỷ với sự chứng nghiệm tâm linh.

Phật tại thế, thời con ngã trầm luân

Phật nhập diệt, con mới được thân người

Tủi phận thân con nhiều tội chướng

Bùi ngùi chẳng thấy đặng kim thân

      Trong các pháp cúng dường, cúng dường Xá Lợi Phật là công đức hơn hết, khi thác sẽ được sanh thiên. Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: Đức A Nan bạch Phật: Lúc Phật hiện thời nếu có người cung kinh cúng dường Phật như trên, sau khi Phật nhập Niết Bàn, nếu có người cung kính cúng dường nữa thân Xá Lợi, ai được phước nhiều hơn? – Phật dạy: Vì hai người đều cung kinh cúng dường nên được phước đồng nhau, phước đức nầy vô lương vô biên. Nầy A Nan, nhẫn đến cung kinh cúng dường một phần tư Xá Lợi, một phần tám, một phần trăm, một phần ngàn, một phần muôn, một phần hằng hà sa, hoặc chừng bằng hột cải, người nầy được phước cũng đồng như người cung kính cúng dường Đức Như Lai hiện tại.. A Nan nên biết rằng, hoặc Phật hiện tại, hoặc Phật đã nhập Niết Bàn, nếu có người cung kính cúng dường, lễ bái, tán thán… được phước đồng nhau không khác.

      Vì các lẽ ấy nên hiện nay Phật tử Việt Nam và các dân tộc Á Châu, các quốc gia từ Đông bán cấu đến Tây bán cầu đều tín ngưỡng Xá Lợi, cúng dường Xá Lợi, chiêm ngưỡng Xá Lợi, đảnh lễ Xá Lợi, phượng thờ Xá Lợi.

XI. Phần kết

      Việc thờ Xá Lợi không phải ai muốn thờ cũng thờ được, có vị đang thờ sanh tâm khinh lờn chán nãn thối chuyển, sau không thờ và vĩnh viễn không thờ nữa. Nên chỉ có Thầy Trụ trì một ngôi chùa mới có đủ phương tiện thờ Xá Lợi, hoặc người Phật tử ăn chay trường, niệm Phật, không  giao lưu thế tục nữa thì cũng có thể thờ Xá Lợi. Không nên thờ Xá Lợi bừa bãi, xem Xá Lợi như một lá bùa hộ mạng cho mình tai qua nạn khỏi, mà phải xem Xá Lợi như chính là Phật vậy.

      Người Phật tử do gia duyên bận buộc, đôi khi ít quan tâm đến bàn thờ Phật, trừ những vị cao niên từ 50 tuổi trở lên. Tuổi trẻ hôm nay không có thời gian phượng thờ, dâng hương, cúng cơm, cúng nước Tam Bảo, thì làm sao còn thời gian để thờ Xá Lợi, cho nên người tu tại tư gia không thờ Xá Lợi vậy thôi. Vã lại, gia đình Phật tử nếu đã thờ Phật rồi, không có phương tiện thờ Xá Lợi thì cũng không sao.

      Xin nhắc lại về công đức thờ Xá Lợi, lễ bái, chiêm ngưỡng, cung nghinh, tán thán Xá Lợi… là đều như nhau. Cho nên, không thờ Xá Lợi tại gia thì đãnh lễ Xá Lợi ở chùa cũng được, không có thời gian đảnh lễ Xá Lợi ở chùa thì Bạn cung nghinh Xá Lợi ở bất cứ nơi nào cũng vẫn có phước đức vô lượng.

Xá Lợi công đức muôn ngàn

Phượng thờ cho chính, hơn vàng thế gian

Bàn có bảo cái, tràng phang

Thờ cho tinh khiết, nghiêm trang đức dày

Phật người xưa, ta người nay

Phụng thờ tôn kính, không bày vẽ thêm

Tiếng ai gỏ cửa bên thềm

Chợt như tỉnh giấc, Phật liền hiện thân.

HT THÍCH GIÁC QUANG Ngày 28/9/2024 (9/8/Đinh Dậu)

Huyền Bí Xá Lợi Phật Và Giải Đáp Bí Ẩn Xá Lợi Phật Công Bố Năm 2024

1.Xá lợi Phật có tác dụng gì?

Điều đầu tiên mà ta sẽ tìm hiểu đó là Xá lợi Phật là gì? Được biết, Xá lợi là những hạt nhỏ, mang hình dạng viên tròn giống như những hạt vòng đá phong thủy.Điều đặc biệt ở Xá lợi đó là chúng được hình thành sau khi thân thể của người tu đắc đạo được đem hỏa táng.Theo các bậc đạo sư phái Thiền, Tịnh, Luật, Mật của Phật giáo thì xá lợi chính là kết quả của quá trình tu hành và khổ luyện.Và điều đó cũng thể hiện được cả quá trình tu dưỡng đạo đức, rất ít người có thể đạt được điều này nhưng tất nhiên đó là sự hiếm có chứ không có nghĩa là không có.Để đạt được kết quả của các quá trình này chỉ có thể xuất hiện ở những người có tấm lòng đại từ đại bi, luôn thể hiện trí tuệ minh triết, mang lại lợi ích cho xã hội.

Trong kinh Kim Quang Minh ghi, “Xá lợi là vật được huân tu bởi giới, định, tuệ rất khó có được, là phước điền tối thượng”.Chỉ những ai có được nhân duyên và mang trong mình công đức tu hành thì mới có thể được gặp xá lợi Phật.Nếu ai tôn thờ xá-lợi Phật một cách thành tâm thì những viên xá lợi đó sẽ lớn dần và tự sản sinh ra nhiều viên xá-lợi khác.Còn đối với người chưa hội đủ phước duyên thì sẽ không thấy được Xá lợi hoặc dù có được gặp thì sau một thời gian Xá lợi cũng sẽ tự biến mất.

Vậy tác dụng thực sự của Xá lợi là gì? Sự tín ngưỡng và tôn thờ xá lợi – bảo vật của thế giới Phật giáo cũng là cách họ dùng tấm lòng đại bi, minh triết của Phật để soi chiếu lại bản thân mình.Việc này giúp cho người Phật tử thăng tiến trên đường tu, có người tôn thờ xá lợi, tín ngưỡng xá lợi Phật như tôn thờ Đức Phật sanh tiền, nên các vị rất tinh tấn tu hành và thêm phần phước huệ rất cao cả.

Việc tôn thờ Xá lợi không những giúp cho thâm tâm được thanh tĩnh,phước huệ trang nghiêm, thọ mạng miên trường, gia đình được an lạc.Một khi tâm của bạn thanh tịnh lòng bình an thì mọi việc sẽ trở nên hanh thông và thuận lợi.

Nói đến tác dụng thực sự của Xá lợi Phật thì không phải ai cũng có thể biết được chính xác những đối với những ai tin vào Phật và có nhân duyên đối với cửa Phật cũng như tôn thờ Xá lợi sẽ tự thấy tâm của mình được thanh tịnh và thân thể cũng liền theo đó mà an định cũng như nguồn năng lượng ẩn chứa trong đó.

Khi chiêm bái cùng một viên ngọc xá lợi, bạn sẽ không nhìn thấy màu sắc giống với những người khác mà theo chúng tôi tìm hiểu thì mỗi người sẽ nhìn thấy một màu sắc khác nhau, tùy thuộc vào nghiệp của mỗi người là nặng hay nhẹ.Xá lợi món bảo vật thiêng liêng của Phật Giáo được tương truyền rằng mang khả năng biến hóa từ ít thành nhiều, nhỏ thành lớn, từ đục thành trong và như ẩn chứa trong mình nguồn năng lượng mạnh mẽ luôn tỏa sáng hào quang.Có thể nói quá trình biến hóa diệu kì này thực sự rất đặc biệt và chỉ có sự thành tâm lễ bái chí thành của người có đạo tâm mới có thể làm được điều đó.

Theo Lạt Ma Zopa Rinpoche: “Xá lợi là kết tinh của sự thành tựu về tâm linh, mỗi phần nhục thân và xá lợi của các Ngài chứa đựng một năng lực mầu nhiệm có thể làm căn lành tăng trưởng và giải trừ nghiệp ác”. Vì thế, xá lợi có năng lực cảm hóa tâm người, phát triển lòng quảng đại trong nội tâm của những ai có cơ duyên được chiêm bái xá lợi.

2.Luôn nhớ phải tôn trí thờ xá lợi Phật nơi cáo ráo tinh khiết

Theo tìm hiểu, chúng tôi thấy được thông thường các Phật tử tín ngưỡng xá lợi thường luôn mang theo Xá lợi bên mình.Họ có thể giữ bên người bằng cách đeo bình nhỏ bên trong có một vài viên Xá lợi trên ngón áp út thường là được làm bằng bạc.Nhưng đối với những người chịu chơi thì có khi còn được làm bằng vàng.Nhiều người không chọn đeo trên tay mà lại chọn đeo trước ngực để không bị vướng víu mà khi đi đâu và làm việc gì họ cũng mang theo.Nhưng điều này chỉ thể hiện sự tín ngưỡng của họ chứ không hề biết đến việc phụng thờ và điều họ nhận được chỉ có phước báo, còn trí tuệ thì không.

Có một số tín đồ cho là mình phụng thờ nhưng chính những điều họ làm có thể chứng minh được điều đó.Họ không ăn chay trường, tụng kinh niệm Phật hay tập tu hành.Những điều này đã thể hiện tất cả và cho thấy họ chỉ biết nghe người khác nói lại, thờ xá lợi có phước báo,nên việc thờ phụng của họ cũng chỉ là một ” Lời nói gió bay”.Khi ta không thực sự thành tâm thì làm sao phước báo có thể đến được.

Những cư sĩ thuần túy phát tâm phụng thờ xá lợi rất tôn kính,quý trọng, hằng ngày tụng kinh niệm Phật ba thời khóa lễ, dù có bận rộn việc xã hội cũng vẫn không bỏ 3 thời kinh. Những cư sĩ đó xứng đáng phụng thờ xá lợi Phật, Thanh văn A la hán.

Nhiều người đã quên đi điều quan trọng của việc tín ngưỡng tôn thờ là họ phải có đức tin, không nghi ngờ thật giả, đó cũng chính là yếu tố cần thiết trong việc tôn thờ Xá lợi.Đạt được những điều đó thì việc tôn thờ xá lợi mới có giá trị đó là những phần thân thể của Phật thánh. Hành giả cũng thường xuyên kết khóa gia trì thần chú Đại Bi, các chú lực khác của Phật, sẽ ảnh hưởng lực đến những viên xá lợi và được phụng thờ theo truyền thống tâm linh, chắc chắn tăng trưởng phước đức vô lượng.

Tầm quan trọng khi chiêm ngưỡng Xá lợi đó phải thấy xá lợi chính là hiện thân của Phật và cũng là hiện thân của tất cả mọi tánh đức cao quý của đấng giác ngộ.

3.Yếu tố để nhận biết và phân biệt Xá lợi thật – giả

Là món bảo vật quý giá được người người tôn kính và thờ phụng nhưng cũng giống như những món đồ trang sức đá quý phong thủy chúng cũng từng có thời gian được giao bán tràn ngập trên các trang web bán hàng như Ebay dưới tên được cho là Xá lợi phật.Không những có vô số các loại khác nhau mà mức giá của chúng cũng vậy,ít nhất là 10 USD.Ngoài ra, còn có một tổ chức tôn giáo đang rao bán một bộ sưu tập hạt xá lợi với mức giá 4.000 USD để duy trì hoạt động.

Câu hỏi đặt ra ở đây là với việc được giao bán phổ biến trên thị trường hiện nay thì làm cách nào có thể phật biệt xá lợi giả và xá lợi thật?

Trang 178 trong quyển “Những Chuyện niệm Phật vãng sanh Lưu Xá Lợi” do cư sĩ Tịnh Hải sưu tầm, có dẫn chứng ghi lại lời của Thượng tọa Như Điển nói về việc tôn thờ Xá Lợi Phật và chứng minh xác quyết đâu là Xá Lợi Phật thật:

Theo Thượng tọa Như Điển, một phần lớn di chuyển về Thiên cung, một phần di chuyển về Long cung. Xá Lợi Phật có ba phần, một loại lớn bằng mút đũa, một loại bằng hạt gạo, một loại bằng hạt mè. Xá Lợi bằng mút đũa hiện không còn nữa. Xá Lợi bằng hạt gạo cũng không còn. Bây giờ duy nhứt còn Xá Lợi bằng hạt mè.

Đặc tính thứ nhất: Tính linh thiêng

Đầu tiên, hãy chuẩn bị 2 bát nước và nhớ hãy để riêng gạo và mè.Khi để gạo vào nước chắc chắn gạo sẽ chìm. lấy Xá lợi để vào nước thì cũng giống như gạo Xá lợi sẽ chìm.

Tiếp theo, lấy gạo ra và bỏ lại một nửa vào chén nước, chắc chắn là gạo vẫn chìm rồi.Nhưng khi lấy Xá lợi ra và bỏ một nửa vào chén nước thì điều đặc biệt là Xá lợi không chìm.

Bây giờ lấy mè bỏ vào nước, ta sẽ thấy mè nổi trên nước như Xá Lợi. Nhưng nếu để Xá Lợi cách nhau khoảng 10 ly thì Xá Lợi tự động di chuyển chứng tỏ pháp thân thanh tịnh Tỳ Lô Giá Na Phật vẫn còn tồn tại trong cõi này.

Vì vậy nếu người nào có phước, thờ Xá Lợi thì Xá Lợi sẽ lớn lên.Còn nếu là ngược lại là vô phước mà thờ Xá Lợi thì Xá Lợi bay bổng đi nơi khác, kể cả bạn có cất giữ cẩn thận đến mấy thì vẫn có thể biến mất.Đây chính là sự linh thiêng của bảo vật quý hiếm này.

Đặc tính thứ hai: Tự di chuyển

Sự linh thiêng của Xá lợi không chỉ được thể hiện ở việc chúng đã chìm rồi lại nổi mà bất ngờ hơn là Xá lợi còn có thể tự động di chuyển.Đúng vậy, trên thế gian không có một vật gì đã chìm rồi mà lại có thể nổi được và chắc chắn là cũng không có một vật gì không phải là thiết bị công nghệ hay máy móc thông minh mà có thể tự động di chuyển.Vậy Xá lợi thực sự sở hữu năng lực gì khiến chúng đặc biệt đến vậy?

Có câu chuyện kể lại rằng, tại rừng Câu Thi Na – nơi Đức Phật nhập Niết Bàn – có một ngôi chùa tên là Song Lâm có ba viên ngọc Xá Lợi của đức Phật.

Đặc tính thứ ba: Xá lợi có 5 màu sắc

Xá Lợi có màu chính là màu lá cờ Phật giáo do một Đại Tá Mỹ tên là Henri Olscostt đề nghị. Ông này khi qua Tích Lan, thấy hào quang năm màu của Phật, mới đề nghị lấy 5 màu đó làm màu cờ Phật giáo, bao gồm:

Màu xanh lá cây và màu xanh biển, hai màu này tượng trưng cho niềm tin chính là Tín.

Màu vàng tượng trưng cho sự Tinh tấn.

Màu đỏ- gam màu thể hiện cho sức mạnh, tượng trưng cho suy nghĩ tức là Niệm.

Màu trắng tượng trưng cho Định.

Và cuối cùng là màu cam.Màu cam ở đây tượng trưng cho Trí tuệ.

Xá Lợi Có Giúp Trừ Tà Ma Không? Làm Thế Nào Để Phân Biệt Xá Lợi Thật Và Giả?

VẤN: Con được biết xá lợi là vô cùng thiêng liêng và mầu nhiệm cùng năng lực bất khả tư nghì. Con đọc kinh sách cho biết xá lợi đi đến đâu là mang lại điều an lạc, thịnh vượng đến đó và xá lợi là rất quý. Nhưng hiện nay con thấy đâu đâu cũng có xá lợi, cứ xoay qua xoay lại là nghe tin một người nào đó đã được vãng sanh, thiêu tro cốt lại có xá lợi, hay là tu hành bệnh tật thế nào rồi thiêu hóa cũng có xá lợi nhiều màu rất đẹp. Con cũng được tặng xá lợi và thờ ở nhà. Con phân vân có phải năng lực của xá lợi là vô cùng lớn như kinh sách nói không? Làm thế nào để biết đâu là xá lợi thật, đâu là xá lợi giả? Nếu thờ xá lợi trong nhà hay giữ xá lợi làm mất có bị mang tội hay không? Xá lợi phải bỏ trong tháp hay nên trang trí sắp đặt thờ ở đâu là đúng nhất? Vì sao xá lợi có thể nhân đôi sinh ra nhiều xá lợi khác? Ai mới đủ khả năng để thờ và lưu giữ xá lợi ở nhà? Xá lợi có giúp trừ tà ma không? Con xin cảm ơn Sư. ĐÁP: I .

Xưa nay người Phật tử chúng ta thường nghe noi đến hai chữ Xá Lợi trong chùa, trong tịnh xá, nhất là các chùa Phật giáo Nguyên Thủy thuộc Nam tông Phật giáo. Người Phật tử Phật giáo Bắc tông ít nghe qua từ ngữ nầy. Điều nầy cũng đúng thôi, vì Phật giáo Nam tông giữ gìn những gì thuộc di sản văn hóa của Phật giáo xưa. Quan điểm của Phật giáo Nam tông, chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chính là Đức Phật thật trong cuộc đời, ngài có các lịch trình tu chứng, đắc đạo, hành đạo cho đến khi niết bàn, chư đệ tử đem hỏa thiêu còn tồn lại những tro tàn, xương cốt gọi là Xá Lợi.

Xuất xứ ý nghĩa Xá Lợi

Trước nhất chúng ta bàn về ý nghĩa hai chữ Xá Lợi (Saririkadhâtu, cũng gọi Sirìra), Xá Lợi hay Xá Lỵ nghĩa đen là tử thi, di cốt, nghĩa bóng chỉ thân , thân cốt, di thân, nghĩa trắng là tro tàn, thông thường chi di cốt của Đức Phật, về sau từ ngữ này còn chỉ những tro tàn, mảnh xương của các vị cao tăng sau khi hỏa thiêu…

Theo Phật Quang đại từ điển, Đài Bắc, Tử Di biên soạn, Phật Quang Sơn xuất bàn 1989 thì Xá Lợi còn có nghĩa là di cốt: dịch ý là thể, thân, thân cốt, di thân. Thông thường xá lợi dùng để chỉ cho di cốt của Phật, nên gọi là Phật cốt hay Phật xá lợi. Chữ này về sau cũng dùng để chỉ cho phần xương đầu của các bậc cao tăng sau khi viên tịch hỏa thiêu còn lại.

Phẩm “Xả Thân” trong kinh Kim Quang Minh quyển 4 (Đại Chánh Tạng 16, trang 354, quyển thượng) ghi: “Xá Lợi là thành quả của sự tu hành giới định tuệ, giữ giới trong sạch, không dễ gì có được, đó là phước điền tối thượng”. Là một công trình tu chứng của chính Đức Phật Bổn sư Thích Ca, suốt hành trình 49 năm cô đọng tinh thần từ bi thương chúng sanh, dùng trí tuệ siêu xuất mà cứu vớt muôn loài không tiếc thân mạng và thành tựu đại nguyện từ vô lượng kiếp trước cho đến hôm nay.

Xá Lợi là những phần thiêng liêng cao quý của Đức Phật, mà Đức Phật đó là Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta tôn kính và đảnh lễ xin tôn kính đó dành cho Đức Phật Thích Ca và các bậc thánh tăng, cao tăng đệ tử của Phật tu đắc đạo thị tịch.. Xá lợi là phần kết tinh còn lại sau khi làm lễ trà tỳ (hỏa thiêu) nhục thân của Đức Phật và các vị thánh tăng cao tăng. Đối với người thường, sau khi thiêu xác, chỉ còn tro và phần xương cháy chưa rã có gọi là Xá Lợi để được đảnh lễ hay không xin nhường cho các tu sĩ nhà Phật, các bậc thiền gia chân chánh và những người con Phật phân định.

Xá Lợi tại các quốc gia Phật giáo tiêu biểu

Phật giáo đến các Vương Quốc Srikanca, Myamar, Tháiland, Lào theo Nam Tông, đến Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam và cận đại thuộc Bắc Tông có những vị Thánh Tăng và các vị Đạo Sư đắc đạo, viên tịch sau khi làm lễ trà tỳ, đệ tử cũng thâu được nhiều Xá Lợi. Tất cả những đồ dùng là di tích của Phật và các vị Thánh Tăng như y, bình bát, tích trượng, v.v. đều gọi là Xá Lợi.

Tại Việt Nam, Hòa Thượng Thích Quảng Đức (1897-1963), Trụ trì chùa Quan Thế Âm, Phú Nhuận, Saigon và Long Khánh tự, xã Long Khánh, quận Cai Lậy tỉnh Định Tường, nay là tỉnh Tiền Giang đã tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt Saigon, nay là Tp.Hồ Chí Minh, để bào vệ Phật giáo bị chánh quyền chế độ cũ đàn áp, không cho Tăng Ni tu hành, bắt bớ tù đày, không cho treo cờ Phật giáo, tổ chức đại lễ Phật đản lộ thiên và cầu nguyện thế giới hòa bình, cầu đất nước Việt Nam chấm dứt chiến tranh ngày 11/6/1963. Sau khi thiêu hóa nhiều công xuất điện trái tim của ngài vẫn không cháy, Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo, chư Tăng Ni, đồng bào Phật giáo bấy giờ gọi trái tim của Hòa Thượng Thích Quảng Đức là “trái tim bất diệt”.

Tại Myanmar, người ta còn thờ tóc và móng tay của Đức Phật khi Ngài còn tại thế đã cắt cho hai vị đệ tử tại gia đầu tiên. Trong kinh tạng Pali thường đề cập đến Xá Lợi Xương, Xá Lợi Răng và Ngọc Xá Lợi.

Ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập (344-413) thuộc xứ Tân Cương, nhà dịch thuật lỗi lạc Trung Quốc, thời Dao Tần ngài học kinh A Hàm tai Kashmir, được phong làm Quốc sư cho nhà Dao Tần về sau dịch tam tạng thành điển từ tiếng Phạn ra tiếng Hán. Khi viên tịch, các môn đệ đem thiêu hóa còn tồn tai cái lưỡi đỏ như sen hồng. (Tiểu sư Cưu Ma La Thập – Thư viện Hoa Sen)

Năm Dân Quốc thứ hai mươi chín, Đại sư Ấn Quang biết mình sắp viên tịch, ngày 24 tháng 10, Ngài triệu tập chư Tăng Ni và Cư sĩ về chùa Linh Nham. Trong buổi họp mặt suy cử Hòa thượng Diệu Chơn kế nhiệm Trụ trì, dặn dò các việc mai sau, và bảo: “Pháp môn niệm Phật không có chi đặc biệt lạ kỳ. Chỉ cần khẩn thiết chí thành, thì không ai chẳng được Phật tiếp dẫn”. Qua ngày mùng 4 tháng 11, Đại sư cảm bệnh nhẹ, song vẫn tinh tấn niệm Phật. Niệm xong, bảo đem nước rửa tay, rồi đứng lên nói: “Phật A Di Đà đã đến tiếp dẫn, tôi sắp đi đây. Đại chúng phải tin nguyện niệm Phật cầu về Tây Phương!”. Nói đoạn, bước lại ghế ngồi kiết già, chấp tay trì danh theo tiếng trợ niệm của đại chúng rồi viên tịch. Lúc ấy, Đại sư 60 hạ lạp, thế thọ 80 tuổi. Rằm tháng hai năm sau, nhằm ngày Phật nhập Niết Bàn, cũng vừa đúng kỳ Đại sư vãng sanh được một trăm ngày. Hàng đạo tục các nơi hội về Linh Nham trên hai mươi ngàn người, sắp đặt lễ trà tỳ. Lúc ấy bầu trời hốt nhiên sáng tạnh trong trẻo. Khi Chân Đạt hòa thượng cầm đuốc cử hỏa, khói bay lên trắng như tuyết, hiện ra ánh sáng năm sắc. Hôm sau Diệu Chơn Hòa Thượng cùng đại chúng đến nơi khám nghiệm, thấy xá lợi hiện ra nhiều hình dáng, đủ các màu, có thứ gồm ngũ sắc, gõ vào phát ra âm thanh trong trẻo.

Xá Lợi thường được gọi là Ngọc Xá Lợi là phần tủy kết tinh trở lại thành những viên có hình thể hơi tròn và cứng, lớn nhỏ khác nhau. Viên lớn như hột đậu hột bắp; viên nhỏ như hột gạo hột mè., nhỏ nữa như hột cải. Xá Lợi có nhiều màu sắc và sáng đục khác nhau. Thông thường Xá Lợi có màu trắng, đỏ, hồng, xanh và vàng, có loại trong như thủy tinh, có loại trắng ngà như hột gạo, có loại phát ra ánh sáng nhẹ nhàng như pha lê, cũng có loại màu sáng nhuận như san hô. Ngọc Xá Lợi là thành quả của công phu tu hành giữ gìn giới luật và công năng tu tập thiền quán cao thâm của Đức Phật. Ngoài ra còn có Xá Lợi của các bậc cao tăng tu hành dày công với Phật pháp chứng nghiệm vãng sanh, chắc chắn rất nhiều trong thế giới Phật Pháp.

Chùa Linh Quang, Bà Chiểu, Gia Định, có tháp Xá Lợi Đại sư Huệ Nhựt, thế danh Hồ Cang, tự Hồ Chí Thạnh (1903-1950), Tăng Trưởng Đạo Phật Khất sĩ Đại thừa, ngài đã bị một số phần tử sát hại, viên tịch vào năm 1950, thời kỳ chiến tranh Việt Pháp sắp chấm dứt. Khi hỏa thiêu xương cốt còn nguyên vẹn, được tôn trí thờ phượng tại Pháp Tháp. Mỗi năm đến ngày cúng Tổ, Hòa Thượng Trụ trì Thích Phổ Thượng đem Xá Lợi Tổ sư cho mọi người chiêm ngưỡng. Tôi kể từ khi xuống núi năm 1965 có tạm trú chùa Linh Quang tu học, đi học tai Phân khoa Đại học Vạn Hạnh -Thánh đường Cơ Đốc Phục Lâm, ngã tu Phú Nhuận – Võ Di Nguy, nhưng chỉ một năm, sau đó về cư trú tại Việt Nam Quốc Tự tiếp tục đi học cho đến khi về tại Quan Âm tu viện, năm 1968.

Năm 1969, Tôi (Thích Giác Quang) có đến thăm Bạn đạo là Sư Trị sự Giáo đoàn V, Thượng Tọa Thích Giác Hà, tu chung một cốc tịnh, tại núi Bồng Lai (hiện nay là Hòa Thượng Trưởng Giáo đoàn V) thuộc Giáo hội Tăng già Khất sĩ tại Trung tâm Phú Lâm-Saigon được Thượng Tọa cho chiêm ngưỡng Xá Lợi của Đức Thấy Giác Lý, Trưởng Giáo đoàn V đã viên tịch. Trong cuộc đời tu của Tôi, đây là lần thứ hai Tôi được chiêm ngưỡng Xá Lợi các bậc Cao tăng viên tịch

Tại Hà Nội, huyện Thường Tín, xã Nguyễn Trãi, thôn Gia Phúc có chùa Đậu, thờ Bà Đậu (602-939), tức nữ thần Pháp Vũ, là một trong tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Điện, Pháp Lôi). Vào thề kỷ 17 Thiền sư Vũ Khắc Minh và Thiền sư Vũ Khắc Trường là hai chú cháu xuất gia tu hành đắc đạo, để lại toàn thân xá lợi, thân không có chôn cất, đốt không cháy, ngâm trong nước không tan. Tượng thiền sư Vũ Khắc Minh đã được tu bổ với các kỹ thuật truyền thống như: bó, hom, lót, thí, mài và thếp với các nguyên liệu như sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất. Tổng số lớp sơn và thếp vàng là 14 lớp. Pho tượng Vũ Khắc Trường đã bị hỏng nặng vào khoảng năm 1983 sau trận lụt lớn.. Tượng đã được các nhà nghiên cứu sắp xếp lại những xương bị gãy, bao kín toàn tượng bằng sơn ta, giấy bản, vải màn, mạt cưa, đất và thếp bạc. Đây là tượng Xá Lợi toàn thân của người Việt Nam tu đắc đạo được bảo quản tôn thờ (Thiền sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường – Bách khoa toàn thư mở)

Theo Phật giáo Trung Quốc ghi chép có rất nhiều vị Cao tăng tu đắc đạo, khi viên tịch đem hỏa thiêu có Xá Lợi. Nay xin liệt kê một số chư vị Tổ sư, các bậc long tượng trong chốn nhà thiền tiêu biểu như Đức Lục Tổ Huệ Năng (638-713), ngài Hám Sơn-Đức Thanh (1546-1623) có toàn thân Xá Lợi (Pháp sư Thích Khoan Năng trụ trì tại am Tây Sơn Tiển Trạch, huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc viên tịch tối 29/9/1989 (thọ 93 tuổi). Sau khi hoả táng được hơn 1.000 viên xá lợi màu xanh ngọc. Đây là nữ pháp sư đầu tiên sau khi hoả táng có xá lợi. Sau đó còn có hai ni sư là Thông Hiền, Phó Chủ tịch hội Phật giáo Quảng Tây (hoả táng di hài thu được hơn 11.000 viên xá lợi năm màu) và ni sư Thích nữ Hựu Quỳnh, tỉnh Quảng Đông (sau khi hoả táng phát hiện những viên xá lợi to bằng hạt đậu xanh có màu ngọc nhạt, lấp lánh).

Chư kinh nói đến các loại xá lợi

Căn cứ vào kinh Đại Bát Niết Bàn và kinh Đại Chánh Tạng 16, trang 354, quyển thượng thì Xá Lợi là phần tro cốt của Phật và các vị Cao Tăng, theo Sư thì kinh khẳng định các bậc thánh tăng cao tăng có Xá Lợi. Đến thời kỳ sau Phật nhập diệt 200 năm, tức là năm 324 trước công nguyên nhà vua A Dục gom hết Xá Lợi của tám nước, gồm có các nước Ma Kiệt Đà, nước Tỳ xá ly, nước Ca tỳ la vệ, nước Allakappa, nước Ràmagàma, nước Vethadipa, nước Pàvà, nước Kusinàrà, nước Pipphalivana chia thành 84.000 phần đựng trong 84.000 tháp ban bố khắp cả đất nước Ấn Độ thống nhất để thờ phượng

Theo Pháp Uyển Châu Lâm quyển 4 chia Xá Lợi làm ba loại, như: Xá Lợi xương (màu trắng), Xá Lợi tóc (màu đen) và Xá Lợi thịt (màu đỏ) (trích bài Xá Lợi của Đức Phật – Hòa Thượng Thích Phước Sơn – PL 2546)

Theo quan điểm của Liên tông Tịnh độ Non bồng thì chư kinh nhận định chỉ có “Đức Phật” và những vị “cao tăng thời Phật”, những vị tu “chứng đạo” dù ở quả vị thứ bậc giới pháp nào khi làm lễ trà tỳ còn tồn tại những hột màu trắng, màu pha lê, màu ngũ sắc, hoặc nhiều màu khác nhau thì gọi là Xá Lợi. Mặc khác, tam tạng thánh điển, giới luật của Phật tồn tại trong nhơn gian cũng gọi là Xá Lợi và luôn được tôn kính đảnh lễ. Như vậy ở thời mạt pháp kim thân Đức Phật đã qua, chư Tổ sư đã về với vị thứ của mình, còn lại những vị tu hành thâm niên, đạo hạnh nghiêm túc, khi trà tỳ cũng khó có Xá Lợi, huống gì người phàm phu, tu không đến đâu, nay thầy nầy mai thầy khác, phạm giới lung tung đến khi già, hốt hoảng trước những nghiệp chướng dẫy đầy, sợ không siêu thoát, ngồi niệm câu Phật hiệu liên miên, trông chờ sau khi trút hơi thở cuối cùng, nhờ chư liên hữu cầu nguyện hỏa thiêu cho có Xá Lợi! Xem Xá Lợi như người làm công, một phương tiện đỡ nâng, không nên vậy!

Đã tu hành cầu mong giải thoát mà cứ ngồi trông chờ “bỏ thân” đem hỏa thiêu có Xá Lợi”, cho người bái phục mình. Người tu thì lo tu, trông chờ có Xá Lợi để làm gì chứ? Chẳng lẽ để “vinh danh” với đời.

Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, nói: sau lễ trà tỳ, Xá Lợi của Đức Phật được chia làm tám phần và phân chia cho đại diện của tám nước đem về tại quốc gia họ. Nhưng hơn 200 năm sau đó, khi hoàng đế A Dục thống nhất toàn thể lãnh thổ xứ Ấn và trở thành một vị vua Phật tử hộ đạo, vua A Dục đã gom tất cả Xá Lợi ở tám nơi và chia thành 84,000 phần đựng trong 84.000 tháp báu nhỏ ban bố khắp các nước.

II . Cung nghinh, cúng dường Xá Lợi Phật

Theo tư liệu lễ hội rước Xá Lợi “Răng Phật” ở Sri Lanka. Theo sử Phật giáo thì Xá Lợi Phật được chia thành 8 phần được cất giữ ở tám nơi khác nhau: một là Cung Trời Đạo Lợi – Hai là Sri Lanka (xá lợi Răng) – Ba là xứ Ga Đà Ra – Bốn là Thủy cung – Năm là vua Trời Phạm Thiên – Xương Đầu Xá Lợi – Hai xương cổ và 4 chiếc răng Xá Lợi., trong đó có một chiếc đem cúng dường tại Sri Lanka, mỗi năm tổ chức lễ rước từ ngày mùng 01 đến ngày 12 tháng 4 là ngày quốc lễ Răng Phật Xá Lợi.

Sư Anando cúng dường Xá Lợi

Năm 1969, Sư ANando, là Bạn thân thích của Hòa Thượng Thích Giác Quang, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Nguyện Thủy Việt Nam về cầu pháp tu hành với Đức Tôn sư Thiện Phước-Nhựt Ý. Sau đó Sư đi du học ở Srilanca có thỉnh hai viên ngọc Xá Lợi của Đức Phật, khi học xong Sư đem về cúng dường cho Đức Tôn Sư và Ni Trường Thích nữ Huệ Giác, hiện nay đang tốn trí thờ phương tại tịnh thất Bảo Tạng. Ngọc Xá Lợi nầy màu vàng ánh, nhỏ như hat cải, Tôi (Thích Giác Quang) có nhơn duyên được giữ gìn ngọc Xá Lợi từ năm 1969 đến năm 1986. Mỗi lần đến đại lễ Phật đản Tôi xin phép Thầy Tổ được đem ra chiêm ngưỡng đảnh lễ Xá Lợi. Hai viên ngọc Xá Lợi nầy khi thả vào nước mưa (hứng giữa trời), thì nổi trên mặt nước và lúc nào cũng lung linh theo sự chuyển động của nước trong bát. Đấy là lần đầu tiên Tôi được tôn thờ, giữ gìn, đảnh lễ Xá Lợi Đức Phật. Ngọc Xá Lợi đó hiện nay vẫn được tôn thờ tại tịnh thất Bảo Tạng.

Cung nghinh Xá Lợi

Ngày 19 tháng sáu năm 2006 lễ vía Đưc Bồ Tát Quan Âm thành đạo, vào lúc 5 giớ sáng, Hòa Thượng Giác Quang được thông tin hôm nay có lễ rước Xá Lợi từ Tp.Hồ Chí Minh và tại Quan Âm tu viện, Trưởng đoàn là Cô Thanh Trúc. Hòa Thượng liền mời Sư Thiện Thanh và nhờ Sư điều hành việc chuẩn bị hương, đăng, hoa quả, thiết lập bàn hương án ngày giữa đường cách phòng Hòa Thượng Giác Quang 10 mét, có sắm cả khay lễ, trong đó chứa đựng lò trầm hương đốt, hương trầm tỏa quyện lấy cả không gian tươi đẹp của buổi bình minh, bên kia chân trời vầng hồng ló dạng, đem lại một sức sống mãnh liệt trong mỗi tâm hồn của Tăng Ni, Phật tử sắp cung nghinh Xá Lợi Đức Phật.

5 giớ 45, đoàn xe đến đọan đường gần núi Châu Thới, chỉ còn 2 km nữa là tới dịa điểm cung nghinh Xá Lợi. 300 chư Tăng Ni, Phật tử bước vào hàng ngũ, đứng trang nghiêm, tất cả đều chắp tạy. Xe đã đến trước nhất Hòa Thượng Giác Quang đến chào quý vị Trưởng đoàn, quý vị nam nữ Phật tử, những Phật tử tín tâm và nhiệt quyết phát tâm cúng dường Xá Lợi, đưa Xa Lợi về tôn thờ tại Quan Âm tu viện. Đoàn do Sư cô Thích nữ Diệu Minh, Trụ trì tịnh thất Bửu Minh cố vấn hướng dẫn, người phát tâm cúng Xá Lợi đầu tiên về tại Quan Âm tu viện là Cô Thanh Trúc, một đệ tử của Phật giáo Nam tông. Quý Sư không ngờ Xá Lợi rất nhiều, tất cả đều được để trong Tháp nhỏ, mỗi tháp cao 10 cm, số lượng Xá Lợi lên đến hằng trăm tháp. Xá Lợi được đặt trong mâm, đựng trong tháp pha lê lớn, tháp nhỏ…Tôi là người đầu tiên bưng một khay lễ Xá Lợi, đi trước tôi là quý Sư Thiện Thanh đánh chuông. Tiếp đến Thượng Tọa Vạn Hùng bưng khay lễ, đến tôi bưng khay lễ Xá Lợi, những bước chân đi từ từ theo thứ tự, quý Thượng Tọa, Ni Sư, chư Tăng, Ni Quan Âm tu viện, Sư cô Diệu Minh, Cô Thanh Trúc và gia đình, Cư sĩ Thiện Lộc cùng quý nam nữ Phật tử tháp tùng theo đoàn…tất cả đều bước đi thật chậm trên lộ trình 200 mét từ bàn hương án cung rước Xá Lợi đến nơi điện thờ Đức Tôn Sư, cũng là nơi tôn trí Xá Lợi để an vị. Đường đi được trải bằng thảm vải vàng thật oai nghiêm và lắng đọng vô cùng, hòa với tiếng niệm Phật: “Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Vương Bồ Tát Ma ha tát”, trong đó còn lồng lộng những đóa hoa tươi, tung rải khắp nẻo đường, hoa sen hồng, sen trắng, những đóa hoa hồng, hoa hồng trắng, hoa lài, hoa giầy ngũ sắc tung bay lên trời xanh và từ từ lung linh trong gió, hòa với những tâm hồn vô tư nhất của chư Tăng Ni lớn tuổi, trẻ tuổi, ấu niên xuất gia chắp tay đón mừng những tháp Xá Lợi. “Xá Lợi niềm tin” mang nhiều dấu ấn kỷ niệm từ ngàn xưa tại rừng Ta la song thọ, thành Câu Thi Na nơi mà Đức Thế Tôn dù đã nhập diệt nhưng Ngài đã làm cho chúng nhân đệ tử một ân huệ hy hữu trong thế gian.

Đúng 7 giờ, lễ an vị Xá Lợi được cử hành, Hòa Thượng Giác Quang cùng chư giáo phẩm Tăng Ni vân tập trước điện thờ Đức Tôn Sư, với bài kỳ nguyện, cung nghinh Xá Lợi, an vị Xá Lợi, đảnh lễ Xá Lợi, Tôn thờ Xá Lợi…đem công đức nầy cầu phước trí nhi nghiêm thân thanh tịnh đại hải chúng, cầu nguyện chư Tăng Ni an lạc, tinh tấn tu hành, thế giới hòa bính nhân dân an cư lạc nghiệp….

Phật tử từ Bình Dương và Tp.Hồ Chí Minh

Các Tháp Xá Lợi đó hôm nay được tôn thờ tại chánh điện Phân hiệu Ni, thật trang nghiêm trong sáng như thời vàng son Đức Phật sanh tiền. Từ năm 2005 đến nay rất nhiều đoàn cúng đường Xá Lợi về Quan Âm tu viện, như Đoàn Thượng Tọa Thích Thiện Hỷ, Trụ trì Nhứt Nguyên bửu tự, Thượng Tọa Thích Minh Luận, Trụ trì chùa Linh Quang, Bàu Sen, Long Điền, Đoàn Sư cô Bửu Liên, Tp.Hồ Chí Minh,, Đoàn Cư sĩ Tâm Tịnh Nguyễn Thị Ngọc Sương, Đoàn Cư sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hường, pháp danh Tâm Huệ, Đoàn cô Lê Tú Lan, pháp danh Ngọc Hoa Giám đốc Cty Vũ Kiều (Bình Dương), Đoàn Cô Đang và gia đình Đoàn Cô Diệu Thanh-Thiện Hạnh (Tp.Hồ Chí Minh), Đoàn gia đình Phật tử Diệu Ngọc (Cô Bảy Kim, huyện Dầu Tiếng) các vị đã thỉnh Xá Lợi từ các nước Ấn Độ, Srilanca, Myamar, Thailand cúng dường.

Thờ Đất Thiêng tại Quan Âm tu viện

Về “đất thiêng”, ngoài đất thiêng của Sư Anando cúng dường, còn có đất thiêng của bốn nơi động tâm, như nơi Phật giáng sanh, nơi Phật xuất gia, nơi Phật thành đạo, nơi Phật nhập niết bàn do Ni Trưởng Thích nữ Huệ Giác trực tiếp thỉnh tại Ấn Độ đem về Việt Nam tôn thờ từ năm 2006 đến nay. Tại tịnh thất Bảo Tạng -Quan Âm tu viện còn có di cốt của Đức Pháp chủ Thích Khánh Anh, thượng thủ Giáo hội Tăng Già Nam Việt, tóc của Đức Sư Ông Thích Bửu Đức, răng, tóc, móng của Đức Tôn sư Thiện Phước-Nhựt Ý. (theo tư liệu HT Thích Giác Quang – Quan Âm tu viện ngày 20/8/2024)

Xây điện thờ Xá Lợi

Theo thông tin từ Sư cô Diệu Minh thì Phật tử Thanh Trúc sẽ phát tâm xây dựng Trung Tâm phượng thờ Xá Lợi trên phần đất của gia đình tại ngã ba Dầu Giây, nơi đây sẽ tôn trí thờ Xá Lợi răng, ngọc Xá Lợi Đức Phật, Xá Lợi các vị thánh tăng, các vị cao tăng đã được khai quật tại Ấn Độ

Phật giáo Việt Nam là nơi Phật tử hướng vê tôn thờ, cúng dường Xá Lợi đông nhất nhì thế giới, là do nhiều nguyên nhân: – Một là chúng sanh trong thế giới ta bà có nhân duyên với Đức Phật và một lòng khát ngưỡng ai cầu Phật Pháp. – Hai là theo môi trường tín ngưỡng Phật Pháp nơi xứ sở Phật thị hiện, thế giới đó con người mang thân tứ đại sanh diệt, có tín tâm, có nghi ngờ, có khổ đau, có vui buồn, có hạnh phúc, có nghèo nàn, thuận lợi cho chúng sanh nơi ấy khởi niềm tin tưởng mà hướng về giáo pháp Đức Phật – Ba là giới pháp của ba đời chư Phật sẽ được truyền trao cho chúng sanh và chúng sanh đều phát tâm thọ học – Bốn là khi cung nghinh tôn thờ Xá Lợi các gia đình Phật tử gặp nhiều thuận lợi, gia đình ngày càng sung túc, phát triển Cty ăn nên làm ra, thân tâm an lạc, được từ lực Phật gia hộ tinh tấn tu hành trường chay niệm Phật. với các nguyên nhân nầy nên các vị phát tâm tôn thờ.

Ứng hóa thân Phật

Phật có tam thân, một là pháp thân, hai là báo thân, ba là ứng hóa sanh thân. Ứng hóa thân là thân thị hiện vào cuộc đời độ sanh, như thân Phật Thích Ca Mâu Ni Phật, có mang thân tứ đại, sau khi nhập diệt thiêu hóa có Xá Lợi, nên gọi Xá Lợi Phật. Xá Lợi Phật cũng là ứng thân Phật. Theo từ điển Phật học của Cụ Đoàn Trung Còn, trang 1476, nói về Xá Lợi như sau: Xá Lợi là tro tàn, thân cốt Phật và các vị thánh tăng “bạch nghiệp”, những bậc chân tu đã quá vãng. Hồi Đức Phật Thích Ca 84 tuổi, Ngài thị tịch gần thành Câu Thi Na, chư đệ tử vừa xúc động vừa đem kim thân Ngài lên giàn hỏa mà trà tỳ theo truyến thống của ba đời chư Phật, tro tàn của Ngài thành ra từng viên đẹp đẽ và chiếu sáng như ngọc, nên kêu là Xá Lợi.

Có hai loại Xá Lợi: Một là “toàn thân Xá Lợi”: như Đức Phật Đa Bảo đã tịch, nhưng Xá Lợi của Ngài là toàn thân thể của Ngài vẫn ngồi kiết già trong Bào tháp. Trong các đời sau hễ có vị Phật nào giáng sanh giảng kinh Pháp Hoa thì toàn thân Xá Lợi ấy xuất hiện mà nghe kinh vừa hộ trì chánh pháp. Hai là “toái thân Xá Lợi”, do người tu tụng kinh niệm Phật, tụng chú lực của Phật có công đức, nên Xá Lợi mỗi ngày thêm nhiều (nát ra) như Xá Lợi Phật Thích Ca thờ trong các chùa Tháp, thánh điện trên thế giới.

Xá Lợi có hai đẳng bậc đặc biệt trong quá trình Phật thị hiện độ sanh: Một là Sanh thân Xá Lợi: tức là “toàn thân Xá Lợi” và “toái thân Xá Lợi” chính Phật dùng cái sanh thân mà tu hành giới định tuệ, thành Phật, rồi tịch diệt để lại Xá Lợi. Chư thiên và loài người những ai cúng dường Xá Lợi ấy sẽ được phước đức lớn, ảnh hưởng đến cầu cho cửu huyền thất tổ siêu sanh lạc quốc thượng phẩm, ông bà cha mẹ tại tiền nương công đức nầy biết hướng về giáo pháp của Phật tu hành, gia đình hạnh phúc an vui. Hai là Pháp thân Xá Lợi, tức là các kinh điển đại thừa và tiểu thừa, giúp cho chúng sanh tu hành giải thoát khổ đau, ra khỏi những phiền não của kiếp trầm luân chúng sanh

Vì các lẽ ấy nên hiện nay Phật tử Việt Nam và các dân tộc Á Châu, các quốc gia từ Đông bán cầu đến Tây bán cầu, trừ các tôn giáo khác đều tín ngưỡng Xá Lợi, cúng dường Xá Lợi, chiêm ngưỡng Xá Lợi, đảnh lễ Xá Lợi, phượng thờ Xá Lợi.

III . Các thành phần Xá Lợi

Căn cứ vào kinh “Dục Tượng công đức” (đời nhà Đường xứ Thiên Trúc, ngày Tam Tạng Bảo Tư Duy dịch Phạn ra Hán, Quảng Minh dịch Hán ra Việt) và sách “Pháp uyển châu lâm”,(do Pháp sư Đạo Thể, tự Huyền Uẩn biên sọan vào đời nhà Đường,TT Thích Nguyên Chơn biên dịch, NXB Phương Đông ấn hành) chúng ta có thể nhận biết Xá Lợi là phần thiêng liêng cao quý của Đức Phật, chư vị Thánh tăng, Cao tăng, Giáo chủ các giáo phái, những bậc làm Thầy Tổ, các bậc thiền gia chân chánh, giữ giới tinh nghiêm trở lên khi niết bàn, thị tịch, viên tịch mới được công nhận là Xá Lợi.

Những thành phần gọi Xá Lợi:

· Tro cốt sau khi trà tỳ Đức Phật

· Răng, tóc, móng, máu của Đức Phật sau khi trà tỳ còn tồn đọng

· Tro cốt của chư vị Thánh tăng, Cao tăng, Thầy Tổ, Tăng chủ các giáo phái

· Mùng, mền, kiến, vật dụng của các bậc Cao tăng

Phật tử qua đời hỏa thiêu có Xá Lợi?

Với danh từ Phật học các Bạn được xưng danh là Cư sĩ Phật tử cũng là con của Phật, nhưng thuộc vào hàng Cư sĩ, do gia duyên bận buộc nên mức độ tu chứng có chừng mực. Vả lại trong quá trình tu hành cũng không ai nghĩ mình có Xá Lợi làm gì, cũng không Cư sĩ Phật tử nào xưng hô mình hỏa thiêu có Xá Lợi. Tất cả những gì cao quý, được tôn vinh, mọi người tôn kính chắc chắn Phật tử sẽ phát nguyện dành cho Đức Phật và Thầy Tổ (Cao tăng) của mình. Dù người Phật tử qua đời thiêu hóa có Xá Lợi thật đi nữa thì cũng không xưng hô mình là thánh tăng, cao tăng phải không quý vị?

Nếu người Phật tử tu hành chính chắn, có đạo hạnh thì khi thiêu hóa cũng có Xá Lợi như các bậc Thành tăng và nhà Phật vẫn trân quý và tôn thờ Xá Lợi đó theo giới hạnh Cư sĩ. Các vị Cư sĩ đó là những người con Phật bảo hộ Phật Pháp khiến cho chánh pháp tồn tại lâu trong đời. Tuy nhiên đối với Phật tử lúc lâm chung, cần áp dụng những từ ngữ cho đúng, như: :”Phật tử qua đời”, “Phật tử quy tây”, “Phật tử đi về” thì được; không nên nói Phật tử “thị tịch”, Phật tử “Niết bàn”, hay “viên tịch”,nhưng cũng có thể dùng từ “Xá Lợi” áp dụng cho Phật tử.

Chúng ta cũng có thể tháo gỡ một phần để cho thấy từ ngữ “Xá Lợi” cũng áp dụng cho Phật tử khi lâm chung. Trên lộ trình tu chứng, căn cứ kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa:” Đức Phật dạy ông Tu Bồ Đề: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tường tức kiến Như Lai…”nghĩa là: Nầy Ông Tu Bồ Đề, trong thế gian tất cả các tướng đều là hư vọng, Ông nhìn thấy các tướng chẳng phải tướng, mới thấy được Phật. Thật vậy, theo Phật giáo đại thừa thì các tướng nam, tướng nữ, tướng xuất gia, tường tại gia, tướng Phật, tướng chúng sanh…đều là giả tướng, phi tướng, tức là “không có tướng”, cũng là “không tướng”, tướng “không tướng” tức là tướng thanh tịnh. Người tu đắc đạo, đạt lý “không tướng” tức là đạt đến quá trình tu chứng “tự tánh không”, các tướng đều đồng đẳng, không cao thấp . Như vậy người con Phật xuất gia hay tại gia khi xả báo thân, hỏa thiêu có Xá Lợi thì Xá Lợi đó cũng đều là Xá Lợi được tôn thờ.

Nói vậy thôi, chứ chúng ta không nên bàn việc phượng thờ Xá Lợi lên thành cao trào. Trên thế gian việc nào mà đã lên đến cao trào thì chắc chắn có lúc cũng phải bị tuột dốc thấp thỏm đến mức tồi tệ. Vì cao trào sẽ đưa đến chỗ hình thức phức tạp, Xá Lợi do con người tạo có nhiều hơn Xá Lợi thật, Xá Lợi không còn chân thật, xứng đáng chỗ thật tu thật chứng nữa. Vô tình chúng ta đưa Phật Pháp vào vùng trũng “hào hoa hư ngụy” không còn chỗ dừng trong lòng người Phật tử chân chánh.

Công đức thờ cúng Xá Lợi

Phật giáo Việt Nam, nhất là các chùa Nam tông Phật giáo, một ít chùa Bắc tông, các nhà Sư, Phật tử Việt Nam tôn thờ cung nghinh Xá Lợi rất nhiều và rất tôn kính. Tuy nhiên cũng có những người thờ Xá Lợi mà không tròn tâm tròn ý, xao lãng việc Phật, xem Xá Lợi như món quà tinh thần, thì phải mất Xá Lợi thôi. Có những vị vì quá tín ngưỡng, để Xá Lợi trong ống vàng 9999, ống bạc, ống mica đeo Xá Lợi lên cổ, tin tưởng Xá Lợi sẽ gia hộ cho hết bệnh, tai qua nan khỏi, sanh mệnh an khang, Xá Lợi gia hộ cho khỏi bị sa đọa địa ngục…Có người để Xá Lợi trong ví tiền cho có tiền vào nhiều, để Xá Lợi trong cặp học cho Phật hộ học giỏi một thời gian sau do quên lãng nên đánh mất Xá Lợi, hoặc Xá Lợi nát vụn theo thời gian. Sự tín ngưỡng nầy có phước hữu lậu không có công đức, có công đức nhưng không có tri tuệ, hoặc không có công đức, huống gì nói đến trí tuệ. Làm tăng trưởng nghiệp chướng thế gian che án con đường đi đến Phật Pháp, không có tiêu chuẩn công đức như chiêm ngưỡng Xá Lợi thật. Việc tín ngưỡng Xá Lợi dù là “Xá Lợi thật” hay “Xá Lợi niềm tin” vẫn được sự hộ trì của chư Phật. Người tín ngưỡng Xá Lợi Phật làm việc Phật sự nào cũng thành tựu tốt đẹp, vì những người đó cũng là họ hàng của Phật từ trong vô lượng kiếp. Những gia đình Phật tử phát tâm thờ Xá Lợi, nơi đó phải thờ Phật trang nghiêm như Đạo tràng, sắp xếp phượng thờ ngôi Tam Bảo đơn giản. về người thờ phải phát tâm ăn chay trường, tụng kinh niệm Phật ít nhất một thời vào buổi tối, tư cách tu hành được tín nhiệm của Bổn sư, Trụ trì cho phép và đến tôn trí an vị giúp cho gia đình an lạc.

Đức Phật là bậc chánh đẳng chánh giác, phước đức vô biên trí tuệ vô cùng tận…Ngài lúc nào cũng được người thế gian tín ngưỡng tôn sùng, bái lạy. Kính thờ Phật đến độ người thế tục in hình Phật vào bao nhang, keo chao…, hoặc cấm kỵ không ai được phép đụng chạm. Đôi khi thấy hình Phật bị bỏ rơi đâu đó, mọi người ai cũng đau lòng và có trách nhiệm là nhặt đem về thiêu hóa trong bồn chậu sạch mới yên lòng. Cũng như nơi thờ Xá Lợi Đức Phật là phải tinh khiết, tôn trí trong tháp báu, đặt lên bàn Phật cho trang nghiêm, kỹ lưỡng kín đáo thì Xá Lợi mới còn với Bạn. không nên đem ra đưa vào nhiều lần cho mọi người chiêm ngưỡng làm phai nhòa hình ảnh Đức Thế Tôn.

Có thể mỗi năm đến ngày đại lễ Phật đản Thầy Trụ trì đem Xá Lợi ra trước bàn thờ Đức Sơ sinh để cho Phật tử đi kinh hành chiêm ngưỡng Xá Lợi. Đến ngày cúng húy kỵ tổ sư khai sơn đem tro tàn của Thầy Tổ cho Phật tử chiêm bái. Mỗi năm làm như vậy là đủ rồi., không nên thờ Xá Lợi lộ thiên, sẽ bị mất vào tay của người xấu, cũng không nên đặt chỗ kín đáo quá Xá Lợi sẽ mất vĩnh viễn, không trở lại với Bạn!

Ỡ Việt Nam, nhất là ở Tp. Hồ Chí Minh, Tp.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có nhiều gia đình Phật tử tín tâm, tuy là tu tại gia nhưng việc tu hành, tu tập thiền tụng như người xuất gia, sống am thất riêng. Rất tín tâm trong việc thờ phượng Xá Lợi, hằng ngày tinh chuyên tụng niệm, phượng thờ Xá Lợi, đảnh lễ Xá Lợi, niệm chú Đại bi, các thần chú linh nghiệm khác, thời gian 7 ngày, 21 ngày, hay 100 ngày. Khi nhơn duyên đã đến, được chiêm ngưỡng Xá Lợi phát sanh, có khi nhân đôi, có khi hình như bể nát, hiện tượng nầy gọi là “toái thân Xá Lợi” (tự điển Phật học – Đoàn Trung Còn), cũng gọi là “Xá Lợi niềm tin”, làm cho người thờ Xá Lợi rất bùi ngùi xúc động và cũng mĩm cười hoan hỷ với sự chứng nghiệm tâm linh.

Phật tại thế thời con ngã trầm luân

Phật nhập diệt con mới được thân người

Tủi phận thân con nhiều tội chướng

Búi ngúi chẵng thấy đặng kim thân

Xá Lợi, kinh Phật là của báu

Theo văn hóa Phật giáo thì Xá Lợi là “Phật bảo”, “Pháp Bảo” của nhà Phật, như một nước có ấn, kiếm của vua là “quốc bảo” của một triều đại vậy, nên phải giữ gìn thật nghiêm mới không bị đánh mất. Người tín ngưỡng Xá Lợi, kinh Phật cũng có khi trở thành người không có thiện tâm, trường hợp như sau ngày hòa bình Thượng Tọa Thích Thiện Tâm, Trụ trì chùa Pháp Bảo, Tp.Hồ Chí Minh tuyên bố mất Xá Lợi trên chánh điện, nhưng tháp thờ Xá Lợi bằng vàng ròng không mất, chứng tỏ Xá Lợi quý hơn vàng, kẻ trộm lấy Xá Lợi chứ không lấy vàng? Chùa Pháp Bảo là chùa Nam Tông, phượng thờ Xá Lợi thật chu đáo kỹ lưỡng mà còn mất, huống gì người tâm trí hờ hững, hằng ngày chỉ chuyên lo việc gia đình xã hội nhiều hơn việc đạo làm sao có phương tiện thờ phượng Xá Lợi?

Pháp thân Xá Lợi (Kinh, Luật, Luận)

Theo kinh Dục Tượng Công Đức thì Xá Lợi được chia thành hai loại là Sanh thân Xá Lợi và Pháp thân Xá Lợi.

Sanh thân Xá Lợi còn gọi là Thân cốt Xá Lợi, tức là di cốt của Phật. Về Sanh Thân Xá Lợi như đã nói ở chương I. Nay sẽ nói về Pháp Thân Xá Lợi, để mọi người tìm hiều, như từ xưa đến nay chư vị Phật tử chưa nghiên cứu sâu sát về Xá Lợi và các lọai Xá Lợi.

Pháp thân Xá Lợi còn gọi là Pháp tụng Xá Lợi, tức là Giáo pháp và Giới luật của Phật còn lưu truyền lại. Nay xin giới thiệu một số kinh bộ tiêu biểu thuộc diện quý hiếm của người xưa để lại và được liệt kê vào danh sách Xá Lợi Kinh Luật Luận trong Liên tông Tịnh độ Non bồng và cho người sau được biết mà tôn thờ.

Ngày 25 tháng 02 năm 1978 Quan Âm tu viện mất 80 bộ kinh Đại Bát Niết Bàn là Pháp bảo đang tôn thờ tại Chánh điện.Người lầy kinh dự định đem kinh ra ngọai quốc, quý Sư chưa rõ đem đến quốc gia nào, nhưng khi đem ngang qua hàng rào Hải Quan sân bay thì bị chận lại, do trong quyển kinh có đóng dấu Thư viện Quan Âm tu viện, Bửu Hòa, Biên Hòa, nên Hải quan trả về Công an Tp.Biên Hòa. Đến tháng tư, năm 1979 tu viện được nhận lại 80 bô kinh Đại Bát Niết bàn.

Tại Thành phố Qui Nhơn tỉnh Bình Định là quê hương Phật Pháp những thời xa xưa, Tổ sư Nguyên Thiều (1648-1728) truyền đạo từ nửa cuối thế kỷ thứ 17, năm 1677 từ Trung Hoa vào Việt Nam, xây dựng chùa Di Đà Thập Tháp, Bình Định. Đến năm 1689 Tổ sư được chúa Nguyễn Phúc Trăn sắc chỉ xây dựng chùa Quốc Ân và tháp Phổ Đồng tại Thuận Hóa. Năm 1692 chúa Nguyễn Phúc Chu lên thay cha sắc phong Ngài làm Trụ trì chùa Hà Trung, sau đó vào Nam, đến ấp Bình Thảo, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cữu, Đồng Nai khai mở nền Phật pháp với tông chỉ “Thiền Tịnh song tu”. Ngài xây dựng ngôi Tổ đình Quốc Ân Kim Cang, đến hôm nay rất thịnh hành và còn lưu truyền bài pháp “Tổ sư Huấn Hối Yếu Tắc”, gồm có 10 bài, mỗi bài 4 câu kệ, nội dung giáo hóa chư Tăng Ni niệm Phật, giữ giới, thanh bần lạc đạo xứng đáng là Thích tử chốn thiền môn trong thời hội nhập (Ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Đồng Nai 2024 – HT Thích Giác Quang).

Tổ đình Linh Sơn, núi Bồng Lai, huyện Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu, nơi Đức Tôn sư Thiện Phước-Nhựt Ý, Tông Trưởng Liên tông Tịnh độ Non bồng có điêu khắc Long vị thờ Tổ sư Minh Đăng Quang đã vắng bóng năm 1955, Long vị cao 1,60 mét tôn thờ tại Tổ đường. Riêng tại Chánh điện Tổ đình có nhiều tủ thờ Pháp bảo, trong đó tờ 250 bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa, bản dịch song ngữ của Hòa Thượng Tích Trí Tịnh. Vào lúc 10 giờ ngày 30 tháng 7 năm Giáp Thìn (1964) chiến tranh tàn phá pháo đài bay F5 dội bom Tổ đình, tất cả tượng Phật đồng, cement, pha lê…điều bị thiêu hủy, riêng Long vị Tổ sư Minh Đăng Quang, 250 bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa không bị cháy, dù một số quyển kinh bị miễn bom ghim vào kinh bên trong, nhưng chữ kinh vẫn còn đọc được! (HT Thích Giác Quang – Tổ đình Linh Sơn, núi Bồng Lai, Bà Rịa Vũng Tàu)

Tại Quan Âm tu viện có thờ bộ kinh Đại Bát Niết Bàn trọn bộ 4 quyển, bản dịch năm 1928, kinh Diệu Pháp Liên Hoa bản dịch năm 1930, kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, 3 bộ kinh nầy đều thuộc bản dịch của Cụ Đoàn Trung Còn. Ngoài ra còn có Tam tạng Thánh điển tôn thờ tại Tịnh thất Bảo Tạng, 12 lời nguyện Bồ Tát Quan Âm, sách dày 5 cm, gồm 14 trang, cao 8 cm, rộng 6 cm, trưng bày tại Nhà Truyền Thống (tư liệu HT Thích Giác Quang – Quan Âm tu viện)

Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận có chùa Phật Quang, thành lập năm 1734 đời vua Lê Thuần Tông (1699-1735), bên nhà chúa là Nguyễn Phúc Trú, do Hòa Thượng Thích Huệ Tánh làm Trụ trì từ năm 1987, chùa đang tôn thờ bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa trên 118 tấm gỗ thị (khắc ngược), do Thiền sư Minh Dung chủ trì, sự hỗ trợ của Thầy Thiện Pháp cùng với 52 Phật tử thực hiện từ năm 1704 đên 1732 đúng 28 năm hoàn thành, kinh là di sản văn hóa Phật giáo (HT Giác Quang sưu tầm từ bạn thân giới thiệu và thông tin từ tư liệu chùa Phật Quang, HT Thích Huệ Tánh, Trụ trì khi HT vào viếng Quan Âm tu viện)

Ngoài ra còn có các bản kinh Kim Cang hay gọi là Kim Cương bản kinh gồm 7000 chữ, có lời chú sớ “Lời tựa của Vua Quang Toản-Cảnh Thịnh Nhà Vua nói: “chỉ có bản dịch của Vô Trước Bồ Tát tạo, đời Tùy, Đạt Ma Cấp Đa dịch, thuộc Đại Chánh 25, trang 757, lời tựa và bản kinh được thêu trên lụa gấm và lụa đào, dài 2,47 mét, rộng 23,4 cm, hiện được lưu giữ tại chùa Trúc Lâm, Huế.(kinh Kim Cang, dòng lịch sử – thời điểm và văn bản – Thích Thái Hóa)

Xá Lợi niềm tin?

Tín ngưỡng là niềm tin tôn giáo, nhất là niềm tin trong thế giới những người con Phật rất xác đáng và nghiêm túc. Một đôi khi do môi trường khắc nghiệt, xa ánh sáng Phật pháp, xa thời gian Phật nhập diệt nên sự tín ngưỡng bị lêch lạc, kéo theo sự mê tín, như tin Đức Phật là thần thánh ban phước giáng họa, chứ không tin Phật là bậc giác ngộ giải thoát những khổ đau phiền não cho chính mình và tìm phương án giải thoát khổ đau cho mọi người Sự tín ngưỡng bao giờ cũng là con đường đi đến chỗ siêu việt về tâm linh “tin Phật là có Phật”, làm việc gì tin vào “sự thành công thì dẫn đến thành công”. Mặc khác, có sự tín ngưỡng nặng về “hình thức”, lúc nào cũng chú trọng đến “hình tướng”. Không chú trọng đến tâm linh, không chánh tư duy đến cái “không hình tướng” thì không còn bảo đãm tính chân thật.

Như nghệ nhân làm phù điêu, chú tâm vào việc khắc Phật, đục đẽo Phật, đẽo một khúc mít hay các lọai cây danh mộc trở thành tượng Đức Phật để thờ, chắc chắn lúc bấy giờ quý vị và mọi người đều phải lạy tượng Phật, mà trước kia “tượng Phật” chỉ là khúc mít. Đây chính là niềm tin tâm linh cụ thể nhất trong thế giới nhà Phật “lấy giả làm thật”, “lấy vọng làm chơn”. Như vậy thì việc tin Xá Lợi thật hay giả cũng căn cứ vào tâm niệm, niềm tin của chúng ta. Như Phật tử làm rơi viên Xá Lợi thật lộn vào trong cát, coi như bị mất Xà Lợi. khó mà tìm kiếm Xá Lợi lẫn trong cát, lúc bấy giờ tìm mãi không được! Phật tử liền suy nghĩ: “ta tin hột cát nằm trong cát là Xá Lợi”, vừa tâm niệm như thế, “Phật tử liền tìm được Xá Lợi”. Trường hợp nếu không có niềm tin thì không tìm được Xá Lợi. Người không có niềm tin thì dù cho có Xá Lợi thật đi nữa cũng không tìm thấy Xá Lợi!

Ban ơi, trong Duy Thức Học tam thập tụng, Phật dạy “…Nhứt thiết duy tâm tạo…”, mỗi mỗi sự việc, sự vật gì đó đều do tâm mình suy nghĩ “thật thì nó thật”, suy nghĩ “không thật thí nó không thật”. Cho nên chúng ta tin Xá Lợi thật thì có thật, chúng ta xem đó là già thì Xá Lợi giả.

Theo tư liệu “Xá Lợi thật của Phật và Xá Lợi niềm tin” của nhà khảo cổ học người Anh tên William Claxton Peppe thì vào năm 1898 đã phát hiện ra Xá Lợi Phật ở Ca tỳ La vệ (Kapilvastu) quê hương Đức Phật,. Hiện nay những di cốt Xá Lợi Đức Phật được khai quật tại cố đô Ca tỳ La vệ thuộc dòng họ Sakya đang được tôn trí tại Viện Bảo Tàng New Delhi – Ấn Độ. Sau khi Phật nhập diệt Xá Lợi được chia ra làm tám phần để trong tám tháp, do người Bà la môn tên Dona đứng ra làm trung gian dàn xếp giao cho tám vương quốc thời bấy giờ gìn giữ và đến thời điểm hiện nay. Điểm thứ hai tại kinh đô Tỳ Xá Ly (Hoa Thị Thành) thuộc dòng họ Lichivas sau khi khai quật được tôn trí tại Viện Bảo Tàng Patna. Điểm thứ ba tại Dharmarajika ở Sarnath, là một thành phố lớn do ông Jagat Singh làm Thị trưởng, ông là người theo đạo Bà La môn không tin vào việc thờ Xá Lợi Đức Phật, đã đem Xá Lợi Đức Phật thả xuống sông Hằng làm theo tập tục người Ấn có vẻ bất kính Đức Phật Thích Ca, Giáo chủ của Đạo Phật. Còn lại gạch của tháp Xá Lợi đem xây nhà khu kiều bào mang tên Jagat Singh thật đau xót (trích Xá Lợi Phật và Xá Lợi niềm tin – Thư viện Hoa Sen). Việc làm của Thị trưởng Jaga Singh là người theo tín ngưỡng của Đạo Bà la môn, đã xúc phạm đến sự tín ngưỡng và lòng tự trọng của người Phật giáo. Người sau xin hỏi lúc bấy giờ không ai có thể can thiệp giúp cho Phật giáo hay sao? Rất tiếc Thị trưởng Singh can thiệp sâu vào tôn giáo Bạn Phật giáo, làm việc ác, mặc dù vậy nhưng cũng không phá vỡ sự tín ngưỡng về Đức Phật, sự tín ngưỡng đó đã lan rộng khắp năm châu bốn bể cho đến ngày nay, mọi người tìm cách tạo nên sự tín ngưỡng “tôn thờ Xá Lợi bằng niềm tin tâm linh, tin có thì có, tin thật thì thật.

Như vậy Xá Lợi Đức Phật sau khi ngài niết bàn, xưa được chia cho tám Vương quốc, theo năm tháng thăng trầm của Đạo Phật, nhằn để tránh sự dòm ngó của ngọai đạo, các phần Xá Lợi đã được triều đình Ca tỳ La vệ, các Cụ Trưởng lão những người con cháu Đức Phật chôn giấu kỹ lưỡng, sâu trong lòng đất núi non hùng vĩ. Theo tư liệu của W C Peppe, kiểm chứng lại thì Xá Lợi Phật vẫn còn nhiều trên quê hương Đức Phật còn 5 nơi nữa trên một đất nước mênh mông trong vùng rừng núi thiêng liêng và huyền bí, con người thích cảnh sống vô vi, không thiết tìm ra Xá Lợi Phật. Do vậy, các lọai Xá Lợi truyền bá tại Tây Tạng, Buthan, Sikkim, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia chỉ là “Xá Lợi niệm tin” vì chưa được giám định ADN, xác định gen di truyền chưa kiểm dịch C14 để xác định niên đại. “Xá Lợi niềm tin”, chúng ta không biết thật giả ra sao, nên chưa xác định có cơ sở để tin được…

Có một điều mà từ 30 năm qua bắt buộc người tu sĩ Phật giáo mãi suy nghĩ việc nhận định thật giả về “Xá Lợi”. Người Cư sĩ, khi trút bỏ xác thân đem hỏa thiêu có Xá Lợi, việc nầy nhà thiền chấp nhận, nhưng không nên làm “ồn lên” thành một phong trào. Người tu niệm Phật khi “qua đời” hỏa thiêu có Xá Lợi, xưa nay là một hiện tượng không hiếm, điều nầy nên tán thán công đức tín tâm của những Cư sĩ Phật tử Việt Nam.

Theo kinh “Dục Tượng công đức”, sách “Pháp Uyển Châu Lâm” giảng chỉ có Phật và các vị Cao Tăng khi thị tịch đem “trà tỳ” còn tồn tại tro tàn, di cốt được gọi là Xá Lợi…Đối với người Cư sĩ tu hành lúc qua đời đem hỏa thiêu còn lại tro tàn, những hạt ngọc trong sáng có được gọi là “Xá Lợi” không? Nhưng có một điều chắc chắn phải được sự cung kính tôn vinh bằng nghi thức theo giới Cư sĩ Phật tử! Cũng có những Phật tử thâm niên tu hành, khi qua đời, không chấp nhận cho con cháu đem hỏa thiêu vì sợ nóng…có gia đình không cho hỏa thiêu vì truyền thống gia đình, hoặc con cháu sợ hỏa thiêu ông bà nóng quá tội nghiệp, cho nên không có gì phải bàn về Xá Lợi đối với Cư sĩ Phật tử.

Một người tu sĩ xuất gia thâm niên viên tịch khi trà tỳ nếu tồn đọng một số xương cốt tro tàn, màu vàng óng ánh, màu trắng đục hay trắng trong…có thể gọi là Xá Lợi, nhưng phải xem lại quá trình tu hành của tu sĩ đó có đạo hạnh hay không? Nếu là tu sĩ đạo hạnh thì còn có thể tin được và cung nghinh đảnh lễ di cốt. Trường hợp phạm giới “trọng” là chuyện rành rành mà nói có Xá Lợi thì thật vô lý.

Phần kết

Ngài Long Thọ Bồ Tát có bài kệ, xin trích một đoạn như sau: “Nếu người trồng căn lành – Nghi thời hoa không nở – Người tín tâm thanh tịnh – Thời hoa nở thấy Phật…”.. Niềm tin của ngài Long Thọ là tín tâm, thấy đúng như thật, thấy Xá Lợi xuất xứ từ đâu, chạm thực thế với Xá Lợi. Xá Lợi của Phật hay Xá Lợi niềm tin, như vậy niềm tin của Long Thọ Bồ Tát là niềm tin xác đáng. Niềm tin có trí tuệ biết đâu là tướng thật, đâu là tướng giả, biết thật giả như thế nào rồi mới tin, tin như thế không còn nghi, không nghi ngờ mới thấy Phật. Tin của ngài Long Thọ không có tin mù quáng, không tin lưng chừng, nửa vời, niềm tin có chuẩn mực và thanh tịnh. Thấy Phật, thành Phật, người có niềm tin chân chánh sẽ gặp Xá Lợi thật.. Việc thờ Xá Lợi không phải ai muốn thờ cũng thờ được, có vị đang thờ sanh tâm khinh lờn chán nản thối chuyển, trước thờ, sau không thờ và vĩnh viễn không thờ nữa. Nên chỉ có Thầy Trụ trì một ngôi chùa mới có phương tiện thờ Xá Lợi. Người Phật tử ăn chay trường, niệm Phật không giao lưu thế tục nữa thì được thờ Xá Lợi. Không nên thờ Xá Lợi bừa bãi, không nên xem Xá Lợi như một lá bùa phò hộ cho mình tai qua nạn khỏi.

Người Phật tử, do gia duyên bận buộc, đôi khi ít quan tâm đến bàn thờ Phật, trừ những vị từ 50 tuổi trờ lên. Tuổi trẻ hôm nay không có thời gian phượng thờ dâng hương cúng cơm ,cúng nước Tam Bảo, làm gì có cơ hội thờ Xá Lợi, cho nên người tu tại tư gia không thờ Xá Lợi vậy thôi. Vả lại gia đình Phật tử thờ Phật, không có phương tiện thờ Xá Lợi cũng không sao! Xin nhắc các Bạn về công đức thờ Xá Lợi, lạy Xá Lợi, chiêm ngưỡng Xá Lợi, cung nghinh Xá Lợi đều như nhau, Cho nên, Bạn không thờ Xá Lợi tại gia thì Bạn đãnh lễ Xá Lợi ở chùa cũng được, Bạn không có thời gian đảnh lễ Xá Lợi ở chùa thì Bạn cung nghinh Xá Lợi ở bất cứ nơi nào trên thế gian vẫn có phước đức vô lượng

Xá Lợi công đức muôn ngàn

Phượng thờ cho chính hơn vàng thế gian

Bàn có bảo cái tràng phang

Thờ cho tinh khiết nghiêm trang đức dày

HT Thích Giác Quang

Cập nhật thông tin chi tiết về Xá Lợi Phật Là Gì? Thần Lực Của Xá Lợi Phật Có Thật Không? trên website Thanhlongicc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!